Giáo án bài Bài tập làm văn số 2 - Giáo án Ngữ văn lớp 10

Link tải Giáo án Ngữ Văn 10 Bài tập làm văn số 2

1. Kiến thức

Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong chương trình ngữ văn lớp 10 theo hai nội dung : đọc hiểu, làm văn với mục đích đánh giá năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh từ tuần 1-6.

Hiểu sâu hơn về văn bản tự sự, nhất là các kiến thức về đề tài, cốt truyện, nhân vật, sự kiện, chi tiết, ngôi kể. Ôn tập, củng cố kiến thức về kiểu bài tự sự.

2. Kĩ năng

- Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu. Củng cố kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, tổ chức bài văn. Viết được bài văn tự sự với những sự việc, chi tiết tiêu biểu kết hợp với các yếu tố miêu tả và biểu cảm. Rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản có đủ bố cục ba phần, có liên kết về hình thức và nội dung.

3. Tư duy, thái độ, phẩm chất

- Ý thức tự rèn luyện cách trình bày ngắn gọn, nâng cao năng lực tư duy sáng tạo.

- Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi hành văn.

4. Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực tự chủ và tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực thẩm mỹ, năng lực tư duy; năng lực sử dụng ngôn ngữ.

Tự luận trong 90 phút.

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA BÀI VIẾT SỐ 2

MÔN NGỮ VĂN 10

Mức độ

Chủ đề

Nhận Biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao Cộng
Đọc hiểu Ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích. Giải thích quan điểm của tác giả. Viết một đoạn văn 5-7 dòng nêu 02 tác dụng của việc đọc sách.

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

0,5

5%

0,5

5%

1,0

10%

1

2,0

20%

Làm văn Kiểu bài tự sự (Đề mở) Kiểu bài văn tự sự . Có kết hợp miêu tả và biểu cảm. Biết sử dụng chất liệu trong những văn bản văn học để làm bài văn tự sự. Kĩ năng: Nắm vững phương pháp làm bài văn tự sự. Tích hợp kiến thức đã học để viết bài văn tự sự theo cốt truyện đã có hoặc tự xây dựng kết hợp với miêu tả, biểu cảm.Biết điều chỉnh dung lượng của bài viết.

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

1,0

10%

1,0

10%

6,0

60%

1

8,0

80%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ

1,5

15%

0,5

5%

2,0

20%

6,0

60%

2

10,0

100%

ĐỀ KIỂM TRA BÀI VIẾT SỐ 2

MÔN NGỮ VĂN 10

Thời gian: 90 phút

Câu 1(2đ):

Đọc đoạn văn sau đây và trả lời các câu hỏi :

"… (1) Thật vậy, Nguyễn Du - đại thi hào của dân tộc từng viết: “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa”. Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha. Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ, đặc biệt sách bị cạnh tranh khốc liệt bởi những phương tiện nghe nhìn như tivi, Ipad, điện thoại Smart, và hệ thống sách báo điện tử trên Internet. Nhiều gia đình giàu có thay tủ sách bằng tủ ... rượu các loại. Các thư viện lớn của các thành phố hay của tỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng, cố duy trì sự tồn tại.

...(2) Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus... Hay hình ảnh những công dân nước Nhật mỗi người một quyển sách trên tay lúc ngồi chờ tàu xe, xem hát, v.v... càng khiến chúng ta thêm yêu mến và khâm phục. Ngày nay, hình ảnh ấy đã bớt đi nhiều, thay vào đó là cái máy tính hay cái điện thoại di động. Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay...”

(Trích “Suy nghĩ về đọc sách” – Trần Hoàng Vy, Báo Giáo dục và Thời đại, Thứ hai ngày 13.4.2015)

a. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích trên.

b. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha?

c. Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 tác dụng của việc đọc sách (Trả lời trong khoảng 5-7 dòng).

Câu 2(8đ): Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.

-Hết-

Câu Đáp án Điểm
Câu 1 ( 2đ) a. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay. 0,5
b. Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha. 0,5

c. - Yêu cầu hình thức: Viết đúng hình thức đoạn văn, quy định về số dòng, các câu văn liên kết chặt chẽ với nhau làm nổi bật chủ đề chung.

- Yêu cầu nội dung: thí sinh có thể trình bày tự do, sáng tạo nhưng phải phù hợp với yêu cầu của đề bài: Nêu ít nhất 02 tác dụng của việc đọc sách.

0,25

0,75

Câu 2 ( 8đ)

a. Yêu cầu về kỹ năng:

- Biết cách làm bài văn tự sự . Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Bài văn có đủ ba phần, có hình thức và nội dung.

- Xây dựng luận điểm – luận cứ - luận chứng rõ ràng.

b. Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng và trình bày theo nhiều cách nhưng phải hợp lí. Dưới đây là những gợi ý :

1. Mở bài:

- Sau khi chôn cất Mị Châu, Trọng Thủy ngày đêm ân hận, tự giày vò bản thân.

- Một hôm, khi đi tắm, Trọng Thủy tưởng như thấy Mị Châu ở dưới giếng nên đã lao đầu xuống giếng mà chết.

1,0

2. Thân bài:

a. Hành trình tìm gặp Mị Châu của Trọng Thủy:

- Dưới âm phủ:

+ Thành khẩn hối hận, cam tâm chịu mọi hình phạt đau đớn.

+ Mong được đặc ân xuống thủy cung gặp lại Mị Châu.

+ Được Diêm Vương chấp nhận.

- Xuống thủy cung:

+ Cảnh vật thiên nhiên: san hô, muôn loài tôm cá, ngọc trai,...lung linh đẹp đẽ, qúy giá.

+ Cảnh lâu đài tráng lệ, quân lính trang nghiêm- nơi Mị Châu ở.

Trọng Thủy cầu xin quân lính cho được gặp nàng.

b. Cuộc gặp gỡ của Mị Châu và Trọng Thủy:

- Cách 1:

+ Mị Châu nặng lời phê phán, đoạn tuyệt với Trọng Thủy.

+ Trọng Thủy bày tỏ sự hối hận muộn màng, cầu xin nàng tha thứ nhưng vẫn không lay chuyển được nàng.

+ Lâu đài tan biến, hồn Trọng Thủy bơ phờ, mờ dần, tan trong dòng nước xanh.

3,0

3,0

- Cách 2:

+ Hai người tỏ ý ân hận về những sai lầm của mình.

+ Cùng nhau cố quên quá khứ, hướng đến cuộc sống yên bình, không vướng bận chuyện trần gian.

- Cách 3:

+ Mị Châu phân tích rõ mọi lẽ đúng sai.

+ Trọng Thủy tỏ ý ân hận, muốn nối lại duyên xưa.

+ Tuy còn tình yêu nhưng Mị Châu không chấp nhận, muốn đem tình “cầm sắt đổi ra cầm kì”

1,0

3. Kết bài:

Nêu cảm nghĩ của mình theo các cách kết thúc trên.

1,0

Lưu ý:

- Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kỹ năng và kiến thức.

- HS có thể trình bày theo những kết cấu khác nhau và có những cảm nhận riêng của mình miễn là đáp ứng được yêu cầu đề.

- Khuyến khích thêm điểm cho những bài là có năng lực cảm thụ văn chương, có sáng tạo.

Xem thêm các bài soạn Giáo án Ngữ văn lớp 10 hay khác:

Đã có lời giải bài tập lớp 10 sách mới:


Giải bài tập lớp 10 sách mới các môn học