Phân tích tác phẩm Bến quê của Nguyễn Minh Châu hay nhất (dàn ý - 6 mẫu) - Ngữ văn lớp 9



Đề bài: Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu

Bài giảng: Bến quê - Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên hoconline)

Dàn ý Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê

1. Mở bài

- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu: ngòi bút, viết về những âm vang chiến trận, bao quát cả những vấn đề dân sự qua cảm hứng của một người lính đầy trải nghiệm.

- Giới thiệu vài nét về văn bản Bến quê: truyện Bến quê gửi gắm những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương.

2. Thân bài

a. Cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ về vẻ đẹp thiên nhiên nơi bến quê

- Hoàn cảnh của Nhĩ:

+ Vào buổi chiều đầu thu, qua khung cửa sổ Nhĩ nhận ra vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên quê hương.

+ Những bông hoa bằng lăng cuối mùa đậm hơn.

+ Vòm trời thu như cao hơn.

+ Đặc biệt nhất là vẻ đẹp trù phú của bãi bồi.

⇒ Mỗi cảnh vật đều mang nét đẹp riêng rất đỗi quen thuộc và bình dị. Nhĩ xúc động trước vẻ đẹp thân thương của xứ sở quê hương.

b. Cảm xúc của Nhĩ về người vợ

- Những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh Nhĩ mới cảm nhận được vẻ đẹp của Liên- người vợ của anh.

- Liên phải chịu bao vất vả, lo toan. Anh xót xa vô cùng khi thấy Liên mặc tấm áo vá => vẻ đẹp bình dị, mộc mạc chân thành.

- Liên đã tần tảo, hi sinh thầm lặng suốt đời vì chồng con, vì gia đình.

- Dù đã trở thành người đàn bà thành thị nhưng Liên vẫn vẹn nguyên những vẻ đẹp tâm hồn trong sáng.

⇒ Cuối đời, Nhĩ mới nhận ra và thấm thía tình cảm gia đình bởi anh đã nhân ra gia đình mãi mãi là ấm áp, hạnh phúc và là nơi nương tựa vững chắc nhất.

c. Cảm xúc và suy nghĩ về khát vọng bình dị cuối đời

- Khi nhận ra vẻ đẹp của bãi bồi bên sông là lúc Nhĩ bừng lên một niềm khao khát cháy bỏng vô cùng là được đặt chân lên bãi bồi đó.

- Khát vọng ấy tuy rất bình dị nhưng lại trở nên đặc biệt trong hoàn cảnh của anh lúc này- đó là một điều vô vọng => thể hiện sự thức tỉnh xót xa của Nhĩ.

- Từ việc nhờ đứa con trai không thành cùng với quãng đời tuổi trẻ của mình, Nhĩ đã nghiệm ra một quy luật có tính chất phổ biến của đời người.

- Hành động cố thu người “giơ tay khoát khoát” như muốn thức tỉnh mọi người: hãy mau thoát ra những cái chùng chình, vòng vèo trên đời để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống.

⇒ Nhà văn đã gửi gắm vào nhân vật Nhĩ những triết lí, tư tưởng cốt lõi của cuộc đời con người: hãy trân trọng những giá trị bình dị nhất trong cuộc sống, quê hương và xứ sở.

3. Kết bài

- Khẳng định lại những thành công về nghệ thuật và nội dung:

+ Tình huống truyện xây dựng đặc biệt, xây dựng nhân vật tư tưởng, miêu tả nhân vật chi tiết, sáng tạo nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.

+ Qua đó gợi cho người đọc những suy nghĩ về con người và cuộc đời, những cái đẹp đôi khi lại là những thứ bình dị nhất mà chúng ta vô tình chưa thể nhận ra.

Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê - mẫu 1

Nguyễn Minh Châu cây bút tài năng trong làng văn học Việt Nam, ông được mệnh danh là một trong những nhà văn mở đường “tinh anh và tài năng nhất” của Văn học nước ta. Ông trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, các tác phẩm của ông sáng tác sau 1975 thể hiện những quan niệm mới mẻ về nghệ thuật và nhân sinh. Bến quê là một trong những tác phẩm như vậy, tác phẩm được coi là bản di chúc nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.

Tác phẩm xoay quanh tình huống: Nhĩ là người đã từng đi nhiều nơi trên thế giới, chẳng còn thiếu xó xỉnh nào, vậy mà cuối đời, vì bệnh nặng nên anh phải nằm một chỗ. Nhưng cũng chính trong những ngày cận kề cái chết anh mới bất chợt nhận những vẻ đẹp giản dị, gần gũi vốn quen thuộc nhưng hóa ra lại quá xa vời với anh. Đây tình là tình huống truyện nhận thức vô cùng độc đáo, thể hiện được những suy tư, chiêm nghiệm của nhân vật.

Câu chuyện hầu hết xoay quanh nhân vật Nhĩ, về tình cảnh, về những mong muốn và suy tư của nhân vật trong những ngày cuối đời. Nhĩ là một người đã đi nhiều nơi, nhưng cuối đời lại có cảnh ngộ hết sức đặt biệt: phải nằm bẹp một chỗ, những sinh hoạt hàng ngày đều do vợ con, hoặc hàng xóm giúp đỡ chăm sóc, việc di chuyển của anh cũng vô cùng khó khăn, chỉ 50cm mà như tưởng chừng như đi được nửa vòng trái đất. Nhưng cũng chính ở hoàn cảnh ấy anh có thời gian tĩnh tâm, cảm nhận và suy ngẫm về cuộc sống về những người quanh mình.

Một trong những cảm nhận đầu tiên của anh chính là về khung cảnh thiên nhiên quanh mình. Khung cảnh được miêu tả theo cảm nhận của Nhĩ từ xa đến gần, từ thấp đến cao. Trước hết là những cành hoa bằng lăng cuối mùa “những bông hoa bằng lăng đã thưa thớt” “mấy bông hoa cuối cùng còn sót lại trở nên đậm sắc hơn”; dòng sông hồng “màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra”; hướng mắt ra xa hơn là khung cảnh bầu trời bỗng cũng như rộng thêm, các bãi bồi bên kia sông phô ra màu vàng thau xen lẫn xanh non, ấy là màu của đất đai màu mỡ, màu của sự sống sinh sôi. Khung cảnh thiên nhiên qua con mắt của Nhĩ vừa có chiều rộng lại vừa có chiều sâu, đó là những cảm nhận hết sức tinh tế, phong phú. Những hình ảnh đó thật quen thuộc, thật gẫn gũi mà cũng biết bao xa lạ bởi có lẽ đây là lần đầu tiên Nhĩ cảm nhận thấy hết vẻ đẹp của nó. Nhĩ bỗng nhận ra, biết bao thứ đẹp đẽ, giản dị quanh mình, mà bản thân đã bỏ lỡ từ rất nhiều năm qua.

Anh không chỉ cảm nhận về sự thay đổi của khung cảnh thiên nhiên, Nhĩ còn phát hiện ra biết bao điều đẹp đẽ, phẩm chất tốt đẹp của người vợ bên mình – chị Liên. Chung sống với nhau biết bao nhiêu năm, nhưng đây là lần đầu tiên anh thấy chị mặc áo vá, nhận ra đôi bàn tay gầy guộc, tần tảo cả một đời lam lũ, vất vả của chị. Cho đến tận bây giờ anh mới cảm nhận được hết nỗi khổ chị phải chịu đựng, tình yêu thương mà chị dành cho anh: “có hề sao đâu … Miễn là anh sống, luôn luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong gian nhà này…”. Qua những cử chỉ, hành động của chị, anh càng trân trọng hơn vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn vợ, đồng thời cũng xót xa, ân hận vì những tháng ngày đã bỏ bê vợ con, cũng vì thế mà anh càng yêu chị hơn nữa.

Trong những ngày này anh cũng cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của tình làng, nghĩa xóm. Đó là những đôi bàn “chua lòm mùi nước dưa”, sự ngộ nghĩnh đáng yêu của những đứa trẻ khi chúng giúp Nhĩ đi nốt nửa vòng trái đất còn lại. Rồi cả cụ giáo Khuyến, sau khi mua báo sáng về thế nào cũng hỏi han tình hình sức khỏe của anh. Đó chính là vẻ đẹp của tình cảm mà bấy lâu nay cuộc sống bộn bề đã che khuất mất. Và anh cũng nhận ra rằng thì ra bến đậu bình yên, đẹp đẽ nhất trong cuộc đời mỗi con người không phải là những chân trời mới mẻ xa lạ mà chính ngay đây, nơi có tình làng nghĩa xóm “tắt lửa tối đèn” có nhau.

Đây cũng là lần đầu tiên Nhĩ phát hiện và cảm nhận đầy đủ nhất vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông, những suy tư về hình ảnh bãi bồi cũng chính là sự bừng tỉnh của Nhĩ về cuộc sống. “Cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng lúc này phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen lẫn xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ. Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến – cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình”. Bãi bồi bên kia sông là hiện thân cho những giá trị gia đình, quê hương bền vững, bình dị mà vô cùng sâu sắc của cuộc sống. Nhĩ khao khát được một lần đặt chân lên bãi bồi vốn thân thuộc mà lại xa cách ấy. Nhưng anh lại vấp phải một nghịch lí: anh không còn đủ khả năng và cơ hội để thực hiện mong muốn ấy nữa. Chính trong khoảnh khắc đó anh đã có một đề nghị thật bất ngờ với cậu con trai: hãy sang bờ bên kia sông Hồng. Có lẽ người con trai không hiểu được bởi vậy đã sa vào ván cờ thế ven đường và bỏ lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Anh không trách con trai bởi tuổi trẻ người ta thường bỏ qua những gì đẹp đẽ quanh mình, bỏ qua những giá trị đích thực trong cuộc sống. Xây dựng nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu gửi gắm nhiều triết lí, những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời. Nhân vật đã trở thành người cảnh tỉnh đối với mỗi chúng ta, đó là không được sa vào những cái vòng vèo, chùng chình mà phải biết tìm về với nguồn cội, quê hương.

Ngoài nhân vật Nhĩ chúng ta còn thấy hiện lên một người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó là chị Liên. Chị là một người phụ nữ tinh tế, nhạy cảm, rất quan tâm và cảm thông với chồng. Trước những câu hỏi của anh chị chỉ im lặng lảng tránh hoặc nói những lời âu yếm, động viên chồng : “anh cứ yên tâm. Vất vả tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được”; “sang tháng mười nhất định anh đi lại được”. Chị là người giàu đức hi sinh, tảo tần: chị chăm lo cho anh từng miếng ăn, ấm thuốc; tấm áo vá đã bao năm, những ngón tay gầy guộc càng chứng minh rõ hơn sự hi sinh thầm lặng của chị. Đặc biệt những bước châm rất nhẹ, rất êm của chị đã nói lên muôn nỗi vất vả, lòng vị tha , tình yêu thương và đức hi sinh của chị Liên. Chị là biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, bên ngoài vẻ khắc khổ là một tâm hồn bao dung, độ lượng, giàu đức hinh sinh, là bến đỗ an toàn và bình yên trong cuộc đời. Vẻ đẹp của chị cũng như bãi bồi bên kia sông Hồng, trải qua bao bão tố vẫn giữ vẹn nguyên sự ấm áp, chân tình.

Để tạo nên sự thành công cho tác phẩm, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng thành công tình huống truyện nhận thức đầy tính nghịch lí, để từ đó đưa ra những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời: “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Nghệ thuật trần thuật qua dòng nội tâm, khắc họa được tính cách, nội tâm phong phú của nhân vật. Ngoài ra hệ thống các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng: bến quê, bãi bồi bên kia sông,… làm tác phẩm sâu sắc, giàu ý nghĩa hơn. Bên cạnh đó ngôn ngữ phong phú, giản dị, giọng điệu thấm đẫm chất suy tư cũng góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm

Với nghệ thuật xây dựng tình huống hấp dẫn, ngôn ngữ đậm chất suy tư tác phẩm mang đến những thông điệp ý nghĩa, sâu sắc: nhận ra những nghịch lí trong cuộc đời từ đó trân trọng, tìm về với gia đình, quê hương. Trong cuộc đời không tránh khỏi những vòng vèo phải tỉnh táo để tránh được những điều đó tìm đến những giá trị đích thực trong cuộc đời.

Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê - mẫu 2

Nhà thơ Đỗ Trung Quân từng có một định nghĩa bằng thơ rất hay về quê hương:

"Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay..."

Thực vậy, trên thế gian này có bao nhiêu con người thì có bây nhiêu cách định nghĩa khác nhau về quê hương. Nhưng hiểu một cách chung nhất, quê hương là điểm đến của tâm linh, điểm về của mọi xáo trộn tâm hồn và là nơi để ta có thể nương tựa sau những vấp ngã, khó khăn trên đường đời. Bởi đơn giản quê hương chính là nơi lưu giữ những kỉ niệm ngọt ngào và là nơi luôn tồn tại những tấm lòng giàu tình yêu thương, sẵn sàng dang rộng vòng tay để đón chúng ta vào lòng. Cũng nhận ra được điều đó, Nguyễn Minh Châu – một nhà văn luôn có những suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu sắc về con người và cuộc đời đã viết lên truyện ngắn "Bến quê" (1985) nhằm thức tỉnh người đọc biết nhận ra và biết trân trọng những vẻ đẹp gần gũi, bình dị, vững bền và quý giá của gia đình, quê hương.

Truyện được kể theo ngôi thứ ba nhưng toàn bộ diễn biến câu chuyện được nhìn qua lăng kính tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Nhĩ với một hoàn cảnh đặc biệt: sắp giã từ cuộc đời. Vì thế, làm cho dòng trần thuật chuyển hóa thành dòng độc thoại nội tâm với những suy ngẫm, triết lí khái quát về con người và cuộc đời của Nhĩ. Từ đó, giúp cho câu chuyện trở nên chân thực, sinh động, đồng thời toàn bộ tư tưởng, chủ đề của truyện được truyền tải một cách dễ dàng, tự nhiên, gần gũi và sâu sắc.

Trước hết, truyện ngắn "Bến quê" đã được nhà văn tạo dựng bằng một tình huống truyện độc đáo mang đầy những nghịch lí, éo le. Nhĩ – một con người đã từng chu du đi khắp nơi trên trái đất với bất kể xó xỉnh nào anh cũng đã từng đặt chân tới nhưng đến phút giây cuối đời anh lại phải cột chặt thân mình bên giường bệnh. Và khi phải bó mình trên chiếc giường chật hẹp, không đi lại được anh mới chợt nhận ra vẻ đẹp giàu có của bãi bồi bên kia sông Hồng – nơi mà anh chưa từng đặt chân đến và vẻ đẹp tâm hồn của người vợ nhưng tiếc thay đã quá muộn màng. Tạo ra một tình huống nghịch lí ấy, tác giả muốn hướng tới một nhận thức mang tính chiêm nghiệm: cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, nghịch lí, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết và toan tính của con người. Do không thể trực tiếp thực hiện được khát vọng đi tới "miền đất mơ ước" ấy, nên Nhĩ đã nhờ vả đứa con trai thay mình đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Nhưng cậu bé đã không hiểu được ý cha nên nó chịu đi một cách miễn cưỡng và rồi bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế bên dọc đường, có thể làm lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Anh nhớ lại thời trai trẻ của mình cũng ham chơi như thế, vả lại nó cũng chưa nhận ra sự hấp dẫn bên kia sông, nên anh không hề trách cậu bé. Từ đó, anh rút ra một triết lí có tính chất tổng kết, chiêm nghiệm về qui luật của cuộc đời con người: "Con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình". Nhĩ một con người của thời đại mới chỉ biết chạy theo những ước vọng xa vời mà lãng quên đi những vẻ đẹp bình dị, thân quen mà mình đang có. Để rồi khi vấp ngã, khi phải sắp chia xa với cuộc sống này vĩnh viễn thì anh mới chịu nhận ra quê hương, gia đình, người vợ mới là bến đậu, là nơi nương tựa bình yên và vững chắc nhất cho con người sau hành trình đi xa trở về. Mặc dù nhận thức của Nhĩ dẫu có chút muộn màng nhưng dù sao anh cũng đã kịp nhận ra trước sự sai lầm của mình, giúp anh cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng.

Cuối truyện, nhà văn miêu tả chân dung và hành động của Nhĩ với vẻ không bình thường: "mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai con mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy. Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó". Hành động đó của Nhĩ thể hiện sự nôn nóng, thức giục con trai hãy mau mau đi đi không lại lỡ mất chuyến đò. Hay đó chính là điều mà tác giả muốn gửi gắm cho chúng ta đừng để mất thời gian vô ích cho những cái "chùng chình", "vòng vèo" trên đường đời mà hãy hướng tới những giá trị đích thực, giản dị, bền vững quanh ta.

Trong truyện, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng rất nhiều những hình ảnh, chi tiết mang tính biểu tượng, có sức chứa đựng khái quát về tư tưởng, chủ đề của truyện với hai lớp nghĩa: tả thực và tượng trưng. Mở đầu truyện là hình ảnh thiên nhiên rất đẹp, thơ mộng với bãi bồi bên kia sông Hồng của tiết trời đầu thu trong buổi sớm bình minh. Đó chính là vẻ đẹp đời sống bình dị, thân thuộc, gần gũi quanh ta như bãi bồi, bến sông mà mở rộng ra là quê hương, làng xóm. Những bông hoa bằng lăng cuối mùa còn sót lại trên cành xòe nở ra một màu tím thẫm; tiếng đất đá lở bên bờ sông, những cơn lũ đầu nguồn đổ về lúc gần sáng... có ý nghĩa biểu tượng cho sự sống của Nhĩ rất mong manh, lóe lên rồi vụt tắt trong những ngày cuối cùng của cuộc đời....Hình ảnh đứa con trai sà vào trò chơi phá cờ thế trên dọc đường biểu tượng cho sự "chùng chình", "vòng vèo" trong cuộc sống mà con người khó có thể tránh khỏi, rứt ra được....

Có thể nói, với truyện ngắn "Bến quê", Nguyễn Minh Châu đã sử dựng ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật thật tinh tế, thấm đượm tinh thần nhân đạo. Nếu như các nhà văn xưa, khi đặt nhân vật trong hoàn cảnh phải đối diện giữa sự sống và cái chết thường hướng tới sức mạnh tinh thần, ý chí nghị lực để vươn lên, chiến thắng nỗi sợ hãi thông thường hay biểu trưng cho sự hi sinh lớn lao, cao cả , thiêng liêng như "Chiếc lá cuối cùng" của O Hen – ri, "Tình yêu cuộc sống" của Giắc Lân - đơn ... thì Nguyễn Minh Châu lại không đi theo cái lối mòn ấy mà lại lựa chọn và xây dựng lên một tình huống khác lạ, độc đáo: đặt nhân vật vào hoàn cảnh sắp từ giã cõi đời để hướng tới sự chiêm nghiệm triết lí về con người và cuộc đời. Bởi khi con người từng trải đang sống nốt những giây phút ít ỏi còn lại của mình thì mới đủ chín chắn và trưởng thành để có thể đưa ra những bài học có tính chất tổng kết một cách sâu sắc về cuộc đời con người được. Cách tư duy đó của nhà văn từ đó cũng giúp cho câu chuyện không chỉ tự nhiên mà còn trở nên thuyết phục, giàu tính nhân văn, nhân đạo hơn. Hay nói cách khác là nhà văn không trực tiếp giao giảng, áp đặt chân lí vào người đọc mà ngược lại thông qua một cuộc đời, một số phận con người để tự rút ra những suy ngẫm của riêng mình nhưng đó lại là suy nghĩ chung, phù hợp với tất cả mọi người. Vì vậy, tuy nhân vật Nhĩ là nhân vật tư tưởng nhưng đã không bị biến thành "cái loa phát thanh" cứng nhắc cho tác giả mà ngược lại số phận, hoàn cảnh của nhân vật lại là "công cụ" đắc lực hợp tình hợp lí để truyền tải tư tưởng của Nguyễn Minh Châu.

Tóm lại, truyện ngắn "Bến quê" rất tiêu biểu cho nghệ thuật trần thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu, có sự kết hợp khéo léo giữa tự sự, trữ tình và triết lí. Đồng thời cho thấy tài năng dựng truyện tự nhiên, hợp lí, cách miêu tả tâm lí nhân vật độc đáo, thể hiện được những suy ngẫm của nhân vật, kết hợp với những hình ảnh, chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng. Từ đó, làm nổi bật tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm. Khép lại "Bến quê" cũng như biết bao nhiêu những trang văn khác của Nguyễn Minh Châu, người đọc nhận ra những điều gửi gắm của nhà văn: con người cần phải nhìn lại mình, cần biết trân trọng những giá trị vững bền, bình dị của gia đình và quê hương mà ta đang có.

Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê - mẫu 3

Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc nhất của văn học Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông đã để lại cho văn học nước nhà một sự nghiệp thơ văn khá đồ sộ như : Bức tranh, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng…Đây là thời kỳ nhà văn đang “đi tìm những hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn của con người” thời kỳ mà con người Việt Nam dường như chỉ sống trong lý tưởng và sống bằng lý tưởng.Nhưng khi đất nước hòa bình, anh đã rất nhạy cảm và nhìn ra được những thay đổi của con người, những cuộc đời trĩu nặng đau thương nhưng nồng nàn khắc khoải với cuộc sống. Đọc “ Bến quê” của Nguyễn Minh Châu đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu đậm.

Tác phẩm được tạo nên bởi cốt truyện thật đơn giản nhưng cũng rất đặc biệt. Tác giả đặt nhân vật của mình vào một căn bệnh hiểm nghèo – đó là bị liệt toàn thân, không thể di chuyển được dù chỉ là nhích người trên giường bệnh. Và anh làm một công việc để có điều kiện đi khắp nơi trên trái đất không xót một xó xỉnh nào. Một cách xây dựng rất tinh tế, ngay mở đầu câu chuyện đã thu hút bạn đọc phải tò mò đọc tiếp những tình huống, chi tiết của truyện.

Nhưng đâu chỉ dừng lại là tình huống trớ trêu ấy mà nhà văn xây dựng lên tình huống khác cũng đầy nghịch lý. Khi Nhĩ phát hiện thấy vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông, ngay phía trước cửa sổ nhà anh, nhưng anh biết rằng mình sẽ không bao giờ được đặt chân lên mảnh đất ấy cho dù nó ở rất gần anh, Nhĩ đã nhờ cậu con trai thực hiện giúp mình cái điều khao khát ấy, nhưng rồi cậu ta lại xa vào một đám chơi cờ trên hè phố và làm lỡ chuyến đò sang sông duy nhất trong ngày. Tạo ra một chuỗi những nghịch lý như trên, tác giả muốn lưu ý người đọc đi đến nhận thức về cuộc đời : đời người chứa nhiều những bất thường, những nghịch lý rất ngẫu nhiên, không ai nói trước và khó tránh được sự vòng vèo đó.

Truyện mở đầu với hình ảnh, Nhĩ từ khung cửa sống của căn phòng đã nhìn thấy những cảnh vật vô cùng tươi đẹp và tràn trề sức sống. Từ gần tới xa Nhĩ nhận thấy : bông hoa bằng lăng tím, con sông Hồng như rộng ra, vòm trời như cao hơn, bãi bồi bên kia sông sao mà gần gũi thế…Một sự cảm nhận bình dị nhưng qua con mắt của một người đã từng đi khắp nơi nay bị bệnh thì lại khác.Phải chăng, có như vậy tác phẩm mới diễn tả hết được những triết lý của cuộc đời và làm hiện lên một không gian có chiều sâu và chiều rộng. Không gian vẫn như xưa mà Nhĩ cảm thấy mới mẻ và giàu đẹp vô cùng. Qua đó tác phẩm muốn rút ra một triết lý cho cuộc đời : quê hương là máu thịt, là tâm hồn của chúng ta, hãy đừng vô tình mà phải biết gắn bó và trân trọng.

Trong mỗi chúng ta ai cũng biết rằng: gia đình, người thân là chỗ dựa tinh thần quan trọng nhất của cuộc đời ta. Đặc biệt đối với nhân vật Nhĩ thì Liên vợ anh là người chăm sóc, quan tâm đến anh nhiều nhất.Nhìn vợ bước xuống cầu thang anh đã xót xa “ suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm” , nhớ đến vợ anh thời con gái còn mặc áo nâu chít khăn mỏ quạ nay đã là một phụ nữa thị thành mà cuộc đời nào có khấm khá gì. Cái nghèo đã không che giấu được của cả gia đình, khi Nhĩ nhìn thấy “ Liên đang mặc áo vá”, cảm nhận “ những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai”. Và Nhĩ nhận ra tất cả tình yêu, sự tần tảo, đức hy sinh thầm lặng của người vợ. Chính trong những ngày cuối đời, nhân vật mới thực sự thấu hiểu lòng biết ơn sâu sắc người vợ của mình “ cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi phới bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hy sinh từ bao đời nay và cũng chính nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm…Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này.

Sang được bờ bên kia sông với Nhĩ vừa là ước mơ vừa là suy ngẫm về cuộc đời. Hình ảnh con sông Hồng phải chăng là ranh giới giữa cái thực và cái mộng mà chiếc cầu nối là con đò qua lại mỗi ngày chỉ có một chuyến. Nhĩ đã nhờ đứa con trai – niềm hy vọng của vợ chồng anh thực hiện ước mơ ấy. Nhưng đứa con trai đã không hiểu được khát khao của người cha, nên làm một cách miễn cưỡng và rồi lại bị thu hút vào trò chơi hấp dẫn ngay bên hè đường “ sà vào đám người chơi phá cờ thế bên hè”, để rồi làm lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Hình ảnh đứa con, hình ảnh của ước vọng từ “ cái mũ cói rộng vành và chiếc sơ mi màu trứng sáo” cứ chập chờn, khi là đứa con, khi là chính nhân vật. Từ hoàn cảnh của mình, từ đứa con trai Nhĩ đã chiêm nghiệm được cái quy luật phổ biến của đời người “ con người ta trên con đường đời thật khó tránh được những cái vòng vèo hoặc chùng chình”. Nên anh cũng không trách đứa con trai của mình. Còn với đám trẻ con và ông giáo Khuyến, Nhĩ cũng đã nhận ra tình làng nghĩa xóm vô cùng ấm áp và cần thiết cho con người.

Miền đất bãi bồi bên kia sông cũng gợi trong Nhĩ bao suy ngẫm về cuộc đời thực. Cuộc đời thực ấy đối lập với sự cầu kỳ mà cần đến sự giản dị.Nhưng để hiểu được ý nghĩa của cuộc đời, người ta phải có “ con mắt xanh”, phải “ in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia”. Cái nghịch lý ấy không triết luận dài dòng mà nằm ngay trong tâm trạng giày vò “ mà lời lẽ không bao giờ giải thích hết giữa say mê và ân hận đau đớn”. Nhưng chặng đường đến với cuộc đời mỗi người lại chọn cho mình một cách riêng, và chặng đường ấy như cuộc chạy tiếp sức từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Có thể nói truyện ngắn “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu chứa đựng những suy ngẫm, những trải nghiệm sâu sắc của tác giả về con người và cuộc đời. Con người cần phải tự ý thức để nhận ra và trân trong những vẻ đẹp bình dị nhưng thiêng liêng bền vững của cuộc sống, của quê hương gia đình. Bên cạnh đó tác giả rất thành cồn ở cách xây dựng tình huống, nhân vật đặc sắc hấp dẫn.Ông như một ngôi sao vút qua bâu trời sáng lòa rồi tan biến vào cõi vĩnh hằng.Nhưng với di sản văn học của ông để lại cho đời, đặc biệt là truyện ngắn trên cũng đáng cho chúng ta tự hào.

Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê - mẫu 4

Không hiểu sao, đã từ lâu, khi đọc Bến quê, tôi cứ đinh ninh đây là bản di chúc nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu gửi lại cho đời, được ông viết ngay từ hơn bốn năm trước lúc ra đi, và hơn hai năm khi biết mình bị trọng bệnh - bệnh ung thư máu. Trong một dung lượng cho rất kiệm, chỉ khoảng sáu trang sách (Bến quê có lẽ thuộc trong số những truyện ngắn hay nhất của Nguyễn Minh Châu), nhà văn đã gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc, minh triết về cuộc đời con người, chỉ có thể có được khi một người đã đi gần trọn đời mình, nhìn lại và vượt qua mọi ham hố, danh vọng, ảo tưởng, để thấu đạt tới những giá trị đích thực, giản dị và bền vững của cuộc sống.

Cũng như ở nhiều truyện ngắn thành công khác của mình, Nguyễn Minh Châu đã sáng tạo một tình huống đặc biệt trong Bến quê để đặt nhân vật vào đó mà soi rọi vào thế giới bên trong của họ, làm bật lên vấn đề tư tưởng của truyện. Tình thế (theo cách gọi của Nguyễn Minh Châu) hay tình huống trong Bến quê là một hoàn cảnh đầy vẻ nghịch lí. Nhân vật chính của truyện - anh Nhĩ - từng đi khắp mọi nơi trên Trái đất, về cuối đời lại bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo đến nỗi không thể tự mình dịch chuyển lấy vài mươi phần trên chiếc phản hẹp kê bên cửa sổ. Nhưng cũng chính vào một buổi sáng trong những ngày cuối đời mình, từ cửa sổ căn gác, Nhĩ đã nhận ra được ở vùng đất bãi bồi bên kia sông, nơi bến quê quen thuộc, một vẻ đẹp binh dị mà hết sức quyến rũ. Vào cái buổi sáng đầu thu ấy, từ trên chiếc phản hẹp kê bên cửa sổ căn gác nhà mình, Nhĩ đã gặp nơi không gian ngoài kia những vật quen thuộc lại được hiện ra trong những màu sắc và vẻ đẹp lần đầu anh được thấy. Những bông hoa bằng lăng thưa thớt cuối mùa như tím thêm hơn. Tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen lẫn vào màu xanh non những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ. Cảnh bãi bồi bên kia sông, một không gian gần gũi và quen thuộc vẫn hiện ra phía trước cửa sổ nhà Nhĩ, nhưng anh lại chưa một lần đặt chân đến, dù suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên Trái đất. Bởi thế, cái bờ bên kia sông Hồng đối với Nhĩ là một chân trời gần gũi mà xa lắc.

Cũng trong những ngày này, khi nằm liệt giường, nhận sự chăm sóc đến từng miếng ăn, ngụm nước của người vợ, Nhĩ mới cảm thấy hết nỗi vất vả của vợ, sự tần tảo, tình yêu và đức hi sinh thầm lặng của vợ mình. Cũng như nhiều nhân vật phụ nữ khác của Nguyễn Minh Châu, Liên - người vợ của Nhĩ - là hiện thân của vẻ đẹp tâm hồn, lòng vị tha và đức hi sinh thầm lặng, khiêm nhường. Những cử chỉ dịu dàng chăm sóc tỉ mỉ, ân cần, những lời động viên và sự thấu hiểu tâm trạng của chồng, rồi tấm áo vá và những bước chân đi rất nhẹ trên bậc cầu thang gỗ đã mòn lõm - bấy nhiêu chi tiết ấy đã đủ nói lên nhân vật Liên, dù chỉ hiện ra chốc lát ở phần đầu của truyện, cũng để lại cho người đọc về một hình tượng đẹp, giản dị mà sâu xa. Sau bao năm tháng bôn tẩu, mà cuộc đời dành cho những chuyến đi khắp chân trời, đến lúc này, ở những ngày cuối đời mình, Nhĩ mới thấy và hiểu được nơi bến đậu bình yên, điểm tựa cho cuộc đời anh chính là gia đình, là người vợ suốt đời tảo tần, thầm lặng. Nhĩ nói với Liên bằng cả lòng biết ơn xen lẫn niềm ân hận: Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm... mà em vẫn nín thinh. Và Liên đã trả lời: có hề sao đâu... miễn là anh sống, luôn luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong gian nhà này...

Trong cái buổi sáng có lẽ cuối cùng cua cuộc đời mình, Nhĩ vô cùng khao khát được một lần đặt chân lên bờ bãi bên kia sông, cái miền đất thật gần gũi nhưng đã trở nên rất xa lạ với anh. Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống — những giá trị thường bị người ta bỏ quên, nhất là lúc còn trẻ, khi những ham muốn xa vời đang lôi cuốn con người tìm đến. Sự thức nhận này chỉ đến khi người ta đến độ đã từng trải, với Nhĩ là cuối đời, khi phải nằm liệt trên giường bệnh. Đấy lại là một nghịch lí trớ trêu của cuộc đời: Khi nhận ra được những giá trị đích thực và giản dị của đời sống, thì người ta lại không còn thời gian và khả năng có thể đạt tới được. Bởi thế, ở Nhĩ sự thức tỉnh có xen với niềm ân hận và nỗi xót xa. Không thể nào làm được cái điều mình khao khát, Nhĩ đã nhờ đứa con trai thay mình đi sang bên kia sông, đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ. Nhưng ở đây anh đã gặp một nghịch lí nữa: đứa con không hiểu được ước muốn của cha, nên làm một cách miễn cưỡng và bị cuốn hút vào những trò chơi hấp dẫn nó gặp trên đường đi, để rồi cứ thế lỡ chuyến đò sang ngang duy nhất trong ngày. Từ sự việc ấy, Nhĩ đã nghiệm ra được cái quy luật phổ biến của đời người: Con người ta đi trên đường đời thật khó tránh khỏi những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình. Anh không trách đứa con trai bởi vì: Nó đã thấy có gì đáng hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ sẽ không bao giờ giải thích hết.

Ở đoạn kết, khi thấy con đò ngang vừa chạm mũi vào bờ đất bên này sông, Nhĩ đã làm một cử chỉ có vẻ kì quặc, nhưng với anh là điều vô cùng hệ trọng và khẩn cấp: Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát, y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó. Hành động cuối cùng này của Nhĩ có thể hiểu anh đang nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Những hình ảnh này còn gợi ra một ý nghĩa khái quát hơn. Đó là ý thức muốn thức tỉnh mọi người về cái vòng vèo, chùng chình mà chúng ta đang sa vào trên đường đời, để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững.

Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 đều là những quan sát, chiêm nghiệm của nhà văn về cuộc đời và con người. Ngòi bút của Nguyễn Minh Châu hướng vào đời sống thế sự, nhân sinh thường ngày, để phát hiện những chiều sâu của đời sống với bao nhiêu quy luật và những nghịch lí, vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp trong những cách nhìn, cách nghĩ quen thuộc của xã hội và của chính tác giả. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu là những cuộc đối chứng với quan niệm và nhận thức cũ để nhận và thấu hiểu cái điều mà tác giả gọi là cuộc đời vốn đa sự, con người thì đa đoan. Điều đặc sắc trong Bến quê là ở chỗ triết lí của truyện có những chiêm nghiệm thâm trầm mà giản dị, mang ý nghĩa tổng kết của một đời người, chỉ có thể có được dưới ngòi bút của một nhà văn thực sự thấu hiểu lẽ đời, tình đời, không chỉ sống nhiều mà còn có năng lực nghiệm sinh sâu sắc. Tạo nên thành công đặc sắc của truyện không phải chỉ có những triết lí thâm trầm đã phân tích ở trên, mà còn bởi một nghệ thuật viết truyện già dặn của tác giả: từ ngòi bút miêu tả thiên nhiên để miêu tả và phân tích tâm lí đều hết sức tinh tế, sáng tạo tình huống chứa nhiều ý nghĩa, sử dụng nhiều hình ảnh và chi tiết nghệ thuật mang ý nghĩa biểu tượng. Sáng tạo hình ảnh biểu tượng vốn là một sở trường của ngòi bút Nguyễn Minh Châu. đặc biệt trong truyện ngắn, ở Bến quê hầu như mọi chi tiết hình ảnh đều mang hai lớp nghĩa: nghĩa thực và nghĩa biểu tượng. Hai lớp nghĩa này gắn bó thống nhất, khiến cho các hình ảnh không bị tước đi giá trị tạo hình và sức gợi cảm để chỉ còn lại hình ảnh ước lệ. Ý nghĩa biểu tượng được gợi ra từ hình ảnh thực, nhưng phải xem xét trong cả hệ thống hình ảnh và chỉ có thế toát lên khi đặt vào sự quy chiếu của chủ đề tác phẩm.

Những bông hoa bằng lăng cuối mùa mang màu sắc như đậm hơn, tiếng những tảng đất lở bên sông này, khi cơn lũ đầu nguồn dồn về, đổ ụp xuống vào giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng, hai chi tiết này gợi ra cho biết sự sống của nhản vật Nhĩ đã ở vào những ngày cuối cùng. Hình ảnh bãi bồi, bến sông và toàn bộ khung cảnh thiên nhiên được dựng lên trong truyện thực ra cũng mang ý nghĩa khái quát, biểu tượng. Đó là vẻ đẹp của đời sống trong những cái gần gũi, bình dị thân thuộc như một bến sông quê, một bãi bồi... rộng ra là quê hương, xứ sở. Chi tiết đứa con trai của Nhĩ sa vào đám chơi phá cờ thế bên đường và hình ảnh Nhĩ với những động tác, cử chỉ khác thường ở cuối truyện đều mang ý nghĩa biểu tượng rất rõ. Việc sử dụng đậm đặc các hình ảnh và chi tiết biểu tượng làm cho tác phẩm của Nguyễn Minh Châu chứa đựng nhiều tư tưởng và ý nghĩa sâu rộng hơn ý nghĩa thực của cái được miêu tả, lại có khả năng gợi mở nhiều liên tưởng, suy ngẫm ở người đọc.

Hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu đã đột ngột dừng lại lúc tài năng và tư tưởng nhà văn đạt tới độ chín, cũng là khi công cuộc đổi mới văn học nước ta bước vào chặng đầu. Trong cuộc Hội thảo tưởng niệm Nguyễn Minh Châu nhân ngày giỗ đầu của ông, nhà văn Nguyên Ngọc đã tôn vinh Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay. Trong con người và mỗi trang sách của Nguyễn Minh Châu, dưới cái vẻ khiêm nhường, thâm trầm, giản dị luôn cháy sáng một ngọn lửa nồng đượm - ngọn lửa được thắp lên từ khát vọng tìm kiếm sự thật và tinh thần nhân bản bền vững, tình yêu thương con người đến khắc khoải như một mối quan hoài. Ngọn lửa ấy vẫn tiếp tục được tỏa ánh sáng và truyền sức nóng của nó đến các thế hệ người đọc.

Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê - mẫu 5

Truyện Bến quê thấm một nỗi buồn và tình thương khi ta bắt gặp một nhân vật ốm đau bệnh tật nằm liệt giường. Nhĩ là người chồng, người cha, người láng giềng, người bạn bị bệnh đã nặng, không có thể đi lại được nữa, muốn ngồi dậy cũng phải có người nâng đỡ; có lúc anh phải "thu hết tàn lực" mới "lết dần lết dần" ra khỏi phiến nệm nằm, mà anh cảm thấy "như mình vừa bay được một nửa vòng Trái Đất". Ốm nặng liệt giường đã nhiều tháng ngày, cơ thể anh bị tàn phá nặng nề "phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng, vừa lở loét".

Truyện Bến quê ghi lại những gì nhìn, nghe thấy, những suy ngẫm và mơ ước, những mối quan hệ của Nhĩ khi nằm trên giường bệnh, qua 4 cảnh: Nhĩ được Liên săn sóc; Nhĩ sai thằng Tuấn đi sang bên kia sông; Nhĩ được các cháu nhỏ (Huệ, Vân, Tam, Hùng...) đến nương nhẹ, lót chăn, kê gối cho anh; ông giáo Khuyến chống gậy đi qua tạt vào hỏi thăm Nhĩ.

Cốt truyện của Bên quê rất bình dị, "bằng phẳng" nhưng lại mang hàm nghĩa triết lí sâu sắc. Qua nhân vật Nhĩ, một bệnh nhân "sắp từ giã cõi đời", Nguyễn Minh Châu nói lên những suy ngẫm về con người, về cuộc đời và cách sống, thức tỉnh, khơi dậy ở đồng loại hãy biết nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp, những giá trị bình dị, gần gũi, quen thuộc của cuộc sống, của quê hương.

Nhĩ là một con người từng trải và có địa vị, đi rộng biết nhiều: "Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên Trái Đất"; "anh đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ... mới 2 năm trước đây, anh còn đi công tác sang một nước bên Mĩ La-tinh. Có thể nói, bao cảnh đẹp những nơi phồn hoa đô hội gần xa, những miếng ngon nơi đất khách quê người, anh đều được thường thức, được hưởng thụ. Nhưng những cảnh đẹp gần gũi, những con người tình nghĩa thân thuộc, thân yêu nơi quê hương cho đến những tháng ngày ốm đau nằm trên giường bệnh khi sắp từ giã cõi đời, anh mới cảm thấy một cách sâu sắc, cảm động.

Hoa bằng lăng quê kiểng có gì là đẹp? Lúc mới nở "màu sắc đã nhạt nhạt". Vòm trời và con sông Hồng, bờ bãi, bến đò... có gì xa lạ đối với nhiều người trong chúng ta, nhất là đối với Nhĩ, khi nhà anh ở gần dòng sông ấy. Sớm nay, Nhĩ vừa ngồi để cho vợ bón từng thìa thức ăn vừa nghĩ: Anh cảm thấy hoa bằng lăng trong tiết lập thu đẹp hơn, "đậm sắc hơn". Sông Hồng "màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra". Bãi bồi phù sa lâu đời ở bên kia sông Hồng dưới những tia nắng sớm đầu thu đang phô ra "một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non - những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ". Và bầu trời, vòm trời quê nhà "như cao hơn".

Nhìn qua cửa sổ ngôi nhà mình, Nhĩ xúc động trước những cảnh đẹp bình dị của quê nhà. Tại sao trước đây, anh ít nhìn thấy, cảm thấy? Phải chăng vì cuộc sống bận rộn tất tả ngược xuôi? Hay tại bởi vô tình? Qua đoạn miêu tả thiên nhiên ở phần đầu truyện, Nguyễn Minh Châu muốn nhắc khẽ mọi người đừng vô tình mà phải biết gắn bó, trân trọng cảnh vật quê hương xứ sở vì những cái đó là máu thịt, là tâm hồn của mỗi chúng ta. Phải biết phát hiện ra vẻ đẹp bình dị, thân thuộc của quê nhà để nâng niu, yêu quý.

Bị ốm đau nằm liệt giường đã lâu ngày, được vợ con săn sóc, trong lòng anh nảy nở bao ý nghĩ, bao tình cảm đàm thắm, sâu nặng, thiết tha. Nghe Liên nói: "Anh cứ yên tâm. Vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được", thì Nhĩ "lần đầu tiên để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá". Hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh làm cho Nhĩ cảm động, thoáng ân hận về sự vô tình của mình: "Suốt đời anh chi làm em khổ tâm... mà em vẫn nín thinh ".

Chưa bao giờ mà Nhĩ nghe rõ thế, những tiếng bình dị thân thương: tiếng vợ đi lại dọn dẹp và dặn dò con..., Liên hãm nưóc thuốc và tiếng nước rót ra lẫn mùi thuốc bắc bay vào nhà, "tiếng bước chân rón rén quen thuộc" của người vợ hiền thảo trên "những bậu gỗ mòn lõm". Đó là tiếng lòng, tiếng thân thương, không phải lúc nào Nhĩ cũng nghe được, Nhĩ cũng cảm được!

Tuấn là đứa con trai thứ hai của vợ chồng Nhĩ và Liên. Một năm nay vắng nhà. Tuấn đi học xa, tận một thành phố phía Nam và vừa mới trở về đêm qua. Bố ốm nặng, Tuấn về thăm bố, thăm mẹ và thăm nhà? Nằm trên giường bệnh ngắm con Nhĩ xúc động "thấy càng lớn thằng con anh càng có nhiều nét giông anh". Nhĩ sai con đi sang bên kia sông "qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh., một lát rồi về". Với Tuấn thì đó là "cái việc gì lạ thế" mà bố sai làm, khi cậu đang mải mê xem cuốn truyện dịch. Đứa con trai chưa hiểu được "cãi điều ham muốn cuối cùng" của đời bố, mà Nhĩ muốn nói ra. Nhĩ muốn đứa con trai thân thương thay mặt mình đi dạo bước qua sông, để ngắm nhìn những cảnh vật thân quen, bình dị mà hầu như suốt cuộc đời bố đã lãng quên.

Qua khung cửa sổ ngôi nhà, Nhĩ dõi theo hình bóng đứa con đội cái mũ cói vành rộng, mặc chiếc áo sơ mi màu trứng sáo, cắp cuốn sách bên nách "đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố". Cái say mê của con bây giờ cũng giống như cái say mê của bố ngày xưa: "Suốt đời Nhĩ cũng đã từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật là không dứt ra được". Nhĩ trầm ngâm suy nghĩ, lo lắng vẩn vơ "Không khéo thằng con trai anh lại trễ mất một chuyến đò trong ngày". Những trò chơi phá cờ thế, những việc làm vô vị nhạt nhẽo sẽ làm tốn mất bao thời gian, bao tâm trí, bao sức lực... Những trò chơi ấy, viêc làm ấy sẽ làm cho tuổi trẻ của nhiều người "trễ mất chuyến đò trong ngày", sẽ làm chậm bước, làm lỡ nhịp một thời trai trẻ. Bằng kinh nghiệm xương máu của mình, "Nhĩ nghĩ một cách buồn bã, con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, và lại nó đã thấy có gì đáng hấp dẫn ở bên kia sông đâu?". Ý nghĩ ấy mang hàm nghĩa một triết lí nhân sinh sâu sắc về đường đời và mục tiêu cuộc sống. Người xưa có nói: "Thế lộ nan" (Lý Bạch), "người ta đi mãi mà thành đường" (Lỗ Tấn) v.v... Con đường trong tâm thức của Nhĩ là "vòng vèo", là "chùng chình", vì nhiều người bị lạc đường, lạc hướng, thiếu trí tuệ, không bền chí, hay nản lòng. Tuổi trẻ và thời gian bị lãng phí. Tâm hồn nông cạn, sống thiếu lí tưởng, không có mục tiêu tầm nhìn hạn hẹp, sao không khỏi vòng vèo, chùng chình, và sẽ không bao giờ tin thấy cái "hấp dẫn" ở phía trước trên đường đời.

Cuộc sống và cảnh vật ở quanh ta, ở quê ta rất đẹp rất đáng yêu, đó là "sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp", thậm chí cả "những nét tiêu sơ", nhưng phải trải nghiệm, phải sống hết mình mới có thể khám phá, mới có thể phát hiện, mới tìm thấy. Và còn phải có một tấm lòng gắn bó yêu thương.

Có người do tài trí, thời cơ, vận may mà thành đạt. Có người sớm phát hiện ra sự lạc hướng, lạc đường mà điều chỉnh, mà khắc phục. Có nhiều người, rất nhiều người đi suốt hành trình cuộc đời mới nhận ra cái vòng vèo, cái chùng chình, sự lạc đường, lạc hướng của mình, nhưng quỹ thời gian đã vung phí, đã gần đất xa trời... Đời người đầy bi kịch, vì thế, một con người như Nhĩ "đã từng in gót chân khắp mọi chân trời", mãi đến lúc nằm liệt trên giường bệnh, trong những "điều riêng mới khám phá" anh cảm thấy "như một niềm say mê pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn" mà "lời lẽ không bao giờ giải thích hết". Cuộc đời là một ẩn số, đường đời là một bài toán khó, nên "không bao giờ giải thích hết". Thế lộ nan, hành lộ nan là như vậy. Vì thế, phải có trí tuệ, có chí khí, giàu lòng kiên nhẫn, sống có lí tưởng đẹp, mới bớt được rủi ro, mới tránh được vòng vèo, chùng chình, thất bại.

Những cảm nhận, những suy nghĩ của Nhĩ về Liên thật sâu sắc, đầy ân tình ân nghĩa. Từ một cô gái chân quê "mặc áo nâu chít khăn mỏ quạ" rồi thành "một người đàn bà thị thành ".Thế nhưng "tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tào và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa ". Nhĩ đã trải qua những ngày tháng "bôn tẩu, tìm kiếm ", nếm trải bao ngọt bùi, cay đắng, Nhĩ "đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình", là vợ con mình. Với Nhĩ, gia đình là bến đậu, bến tình thương, bến hạnh phúc.

Cảnh những đứa trẻ (Huệ, Vân, Tam, Hùng) xinh tươi, ngoan ngoãn, nghe Nhĩ gọi, chúng ríu rít chạy lên, xúm vào, nương nhẹ giúp anh xê dịch từ mép tấm nệm ra mép tấm phản, lấy gối đặt sau lưng Nhĩ, làm cho anh như trẻ lại "toét miệng cười với tất cả, tận hưởng sự thích thú được chăm sóc và chơi với". Hạnh phúc đâu phải cái gì cao siêu, mà rất bình dị, rất nho nhỏ, có khi chỉ là một ánh mắt, một nụ cười trẻ thơ, một bàn tay nhỏ bé "chua lòm mùi nước dưa",...

Hình ảnh ông cụ giáo Khuyến sáng nào đi qua cũng tạt vào thăm Nhĩ là một hình ảnh ân tình ân nghĩa nuôi dưỡng tâm hồn. Một câu hỏi thăm về sức khỏe, một lời an ủi, động viên ân cần: "Hôm nay ông Nhĩ có vẻ khỏe ra nhỉ?". Còn gì cao quý hơn, ấm áp hơn, tình nghĩa hơn? Được sống trong tình yêu thương của đồng loại mới thật hạnh phúc. Và đó là sắc màu ý vị trong cuộc đời mỗi chúng ta, là "bến quê" của tâm hồn mỗi chúng ta.

Cụ Khuyến hốt hoảng khi phát hiên ra mặt mũi Nhĩ "đỏ rựng một cách khác thường", hai mắt thì "long lanh chứa một mê say đầy đau khổ", và mười đầu ngón tay Nhĩ "đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy",... Đó là "chút sức lực cuối cùng còn sót lại... "của Nhĩ. Nhĩ sắp ra đi. Con đò chở khách trên sông Hồng cập bến, mang ý nghĩa biểu tượng, con đò sẽ đưa Nhi tới cõi hư không của một kiếp người...

Bến quê là một truyện ngắn thấm đẫm ý vị triết lí về con người và cuộc đời. Những năm cuối đời, Nguyễn Minh Châu đã trải qua nhiều tháng ngày đau ốm. Bến quê ít nhiều mang tính tự truyện và dự báo nên rất chân thật chân thành. Bài học về tình yêu và lẽ sống được đặt ra một cách cảm động. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống trong tình thương với gia đình, quê hương. Phải biết nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, thân thuộc của cuộc sống, của quê hương. Như thế mới thật sự hạnh phúc. Đó là tiếng lòng trang trải của Nguyễn Minh Châu.

Phân tích tác phẩm truyện ngắn Bến quê - mẫu 6

Một tác phẩm văn học xuất sắc là một tác phẩm hướng đến những chân giá trị cao đẹp ở đời. Một tác phẩm hay phải chạm đến những rung cảm về cái đẹp, những cảm xúc thật và mang tầm tư tưởng lớn. Truyện ngắn Bến quê là một tác phẩm thành công của nhà văn Nguyễn Minh Châu, không chỉ lôi cuốn người đọc bởi tình huống sáng tạo, cốt truyện đơn giản nhưng hấp dẫn mà truyện còn mang đến những tư tưởng thấm đẫm triết lí trong cuộc đời mỗi con người.

Một tình huống đầy éo le đã xảy ra với Nhĩ, cuộc đời Nhĩ đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng những ngày cuối cùng vì mắc căn bệnh hiểm nghèo ông buộc phải chôn chân mình trên giường bệnh. Cũng từ đây, ông nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống không phải là những mộng ước xa vời, viễn vông, không phải là những thứ xa xôi hay những điều to lớn. Mà hạnh phúc chính bắt nguồn từ những điều đơn giản, bình dị trong cuộc sống, những thứ quanh ta mới là điều đẹp đẽ và đáng trân trọng.

Lúc trên giường bệnh, ông mới thấu hiểu hết những vất vả cực nhọc của Liên- người vợ của mình. Ông chưa bao giờ thấy thương Liên như lúc này. Một người vợ tần tảo, chịu thương chịu khó, chăm lo cho Nhĩ từng li từng tí. Nhìn đôi bàn tay gầy guộc của vợ, mảnh áo vá Liên mặc Nhĩ càng chưa xót hơn bao giờ hết. "Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm...mà em vẫn cứ nín thinh. Có hề sao đâu, miễn anh sống là được, luôn luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong ngôi nhà này..."

Liên - một cô gái thành phố, lấy Nhĩ về quê mà vẫn mang trong mình nét tần tảo, sự chịu đựng và đức hi sinh cao cả. Từng bước chân nhẫn nại, từng lời nói nhẹ nhàng và chịu đựng đủ để biết Liên đã yêu anh biết nhường nào, anh hiểu hết. Dường như, sau những mệt mỏi của cuộc hành trình tìm kiếm những khao khát của tuổi trẻ thì cuối cùng, gia đình vợ và con chính là điểm tựa duy nhất cho những ngày cuối đời của Nhĩ.

Nhĩ là một người từng bay những chuyến bay với khoảng cách cả nửa vòng trái đất. Vậy mà giờ đây, lại không thể nhấc nổi mình cho vài bước chân đơn giản. Ngồi trong tấm phản nhìn ra ngoài cửa sổ, Nhĩ thấy những bông bằng lăng tím đến màu đỏ nhạt của con sông Hồng, vòm trời cao và bãi bồi bên kia sông, tất cả dường như rất đỗi gần gũi nhưng với Nhĩ lại quá xa lạ. Trong mắt Nhĩ bây giờ, cảnh vật buổi sáng cuối thu đẹp hơn, trong hơn và hấp dẫn lạ kì, nó mang một vẻ đẹp rất riêng mà chỉ mình Nhĩ mới thấy, chỉ mình Nhĩ mới có những cảm xúc như thế. Một vẻ đẹp mà sau bao nhiêu năm cho đến bấy giờ Nhĩ mới nhận ra nó, khát khao và đam mê nó, chính điều đó đã thôi thúc ước muốn được đặt chân lên bãi bồi bên kia song của Nhĩ. Cách nhìn nhận đó giúp ta thấy được trong tâm hồn nhân vật Nhĩ là một niềm tha thiết với cuộc sống, một sự rung động trước vẻ đẹp thân thuộc của thiên nhiên quê hương mình.

Không thể dịch chuyển bản thân mình trên giường bệnh, Nhĩ phải nhờ sự giúp đỡ của những đứa trẻ con hàng xóm và người thân của mình. Điều Nhĩ khao khát bây giờ là được sang bãi bồi bên kia sông nhưng Nhĩ lại không thể thực hiện được mà gửi gắm nguyện vọng ấy vào đứa con của mình. Nhưng chính đứa con lại mải mê sa vào đám chơi phá cờ trên hè phố của lũ trẻ mà để lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Dù Nhĩ đã nôn nóng, thúc giục nhưng chính những cám dỗ xung quanh, những ham thích của tuổi nhỏ mà cuối cùng Nhĩ chẳng thể thực hiện được ước mơ tưởng chừng đơn giản như thế.

Bến quê đã thành công trong việc xây dựng những hình ảnh giàu tính biểu tượng. Hình ảnh bãi bồi bên kia sông mang ý nghĩa biểu trưng cho những vẻ đẹp giản dị, gần gũi của quê hương đối với mỗi người mà ở đó chúng ta cần trân trọng, hướng về và gìn giữ. Hình ảnh những bó hoa bằng lăng cuối mùa, màu sông Hồng nhạt dần hay tiếng sạt lở bờ đất gợi lên những bất trắc của cuộc đời con người mà Nhĩ là hiện thân cho những gập ghềnh, chông chênh cho sự sống mong manh đó.

Hành động Nhĩ đưa tay khoát khoát như đang giục giã cậu con trai đi cho kịp chuyến đò nhằm thức tỉnh mọi người về những điều vòng vèo, chùng chình, những khó khăn, cám dỗ của cuộc sống để hướng tới những chân giá trị bền vững. Từ đó, tác phẩm đã mang lại cho người đọc những chiều sâu triết lí chiêm nghiệm đầy sâu sắc. "Con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình".

Trong cuộc sống, đôi khi có những điều bất ngờ xảy ra mà ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Những điều bất thường và những nghịch lí đó mang đến cho chúng ta nhiều điều mà vốn dĩ ta chưa thể nắm bắt hay kiểm soát. Khi đã từng trải hoặc vào một lúc nào đó bạn chợt nhận ra giá trị đích thực thì lúc đó bạn đã không còn khả năng để thực hiện. Bởi vậy, ngày lúc này, chúng ta nên biết trân trọng những điều gần gũi, tốt đẹp và bình dị quanh ta.

Những điều đó, đôi khi vì một vài lí do hay những chật vật của cuộc sống mà chúng ta vô tình bỏ qua, không trân trọng hay thậm chí thờ ơ với nó. Nhưng cuối cùng, những chân giá trị lại đến từ đó. Và hơn hết, điều quý giá nhất trong cuộc đời mỗi con người là quê hương, là gia đình, đó là những chỗ dựa bền vững nhất cho chúng ta.

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 9 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Giới thiệu kênh Youtube hoconline


ben-que.jsp