50+ mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê | Văn mẫu lớp 9



Tổng hợp 50+ mẫu Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê hay, chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh lớp 9 trên cả nước giúp học sinh lớp 9 có thêm tài liệu tham khảo từ đó biết cách viết Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê dễ dàng hơn.

Đề bài: Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn "Bến quê" của Nguyễn Minh Châu.

Bài giảng: Bến quê - Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên hoconline)

Dàn ý Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê

1) Mở bài:

- Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ. Sau năm 1975, bằng những tìm tòi đổi mới sâu sắc về văn học nghệ thuật, đặc biệt là về truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu trở thành một trong những người mở đường cho công cuộc đổi mới văn học.

- Bến quê được xuất bản năm 1985. Với cốt truyện rất bình dị nhưng truyện chứa đựng những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình của quê hương.

2) Thân bài:

* Nhĩ là một con người từng trải và có địa vị, đi rộng biết nhiều "Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất", anh đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ. Có thể nói bao cảnh đẹp những nơi phồn hoa đô hội gần xa, những miếng ngon nơi đất khách quê người, anh đã được thưởng thức, nhưng những cảnh đẹp gần gũi, những con người tình nghĩa thân thuộc nơi quê hương cho đến ngày tháng năm ốm đau trên gường bệnh khi sắp từ giã cõi đời anh mới cảm thấy một cách sâu sắc, cảm động

* Những suy nghĩ, trải nghiệm của nhân vật Nhĩ qua cảnh vật nơi bến quê:

- Qua cửa sổ nhà mình Nhĩ cảm nhận được trong tiết trời lập thu vẻ đẹp của hoa bằng lăng "đậm sắc hơn". Sông Hồng "màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra", bãi bồi phù sa lâu đời ở bên kia sông dưới những tia nắng sớm đầu thu đang phô ra "một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non..." và bầu trời, vòm trời quê nhà "như cao hơn"

- Nhìn qua cửa sổ nhà mình, Nhĩ xúc động trước vẻ đẹp của quê hương mà trước đây anh đã ít nhìn thấy và cảm thấy, phải chăng vì cuộc sống bận rộn, tất tả ngược xuôi hay bởi tại vô tình mà quên lãng

=> Nhắc nhở người đọc phải biết gắn bó, trân trọng những cảnh vật quê hương vì những cái đó là là máu thịt là tâm hồn của mỗi chúng ta.

* Tình cảm và sự quan tâm của vợ con với Nhĩ

- Liên, vợ Nhĩ tần tảo, giàu đức hi sinh khiến Nhĩ cảm động "Anh cứ yên tâm. Vất vả tốn kém đến bao nhiêu em và các con cũng chăm lo cho anh được" "tiếng bước chân rón rén quen thuộc" của người vợ hiền thảo trên "những bậc gỗ mòn lõm" và "lần đầu tiên anh thấy Liên mặc tấm áo vá" Nhĩ đã ân hận vì sự vô tình của mình với vợ. Nhĩ hiểu ra rằng: Gia đình là điểm tựa vững chắc nhất của cuộc đời mỗi con người.

- Tuấn là đứa con thứ hai của Nhĩ. Nhĩ đã sai con đi sang bên kia sông "qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát, rồi về". Nhĩ muốn con trai thay mặt mình qua sông, để ngắm nhìn cảnh vật thân quen, bình dị mà suốt cuộc đời Nhĩ đã lãng quên.

- Tuấn "đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố" mà quên mất việc bố nhờ, khiến Nhĩ nghĩ một cách buồn bã "con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình" để đến chậm hoặc không đạt được mục đích của cuộc đời.

* Quan hệ của Nhĩ với những người hàng xóm:

- Bọn trẻ: "Cả bọn trẻ xúm vào, chúng giúp anh đặt một bàn tay lên bậu cửa sổ, kê cao dưới mông anh bằng cả một chiếc chăn gập lại rồi sau đó mới bê cái chồng gối đặt sau lưng"

- Ông cụ giáo Khuyến "Đã thành lệ, buổi sáng nào ông cụ già hàng xóm đi xếp hàng mua báo về cũng ghé vào hỏi thăm sức khỏe của Nhĩ"

=> Đó là một sự giúp đỡ vô tư, trong sáng, giàu cảm thông chia sẻ, giản dị, chân thực.

3) Kết bài: Khẳng định sự phát hiện và trân trọng những vẻ đẹp gần gũi và bình dị của cuộc sống và tình yêu cuộc sống mãnh liệt của nhân vật Nhĩ.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê - mẫu 1

Nguyễn Minh Châu (1930-1989) là một trong số những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi đương đại Việt Nam. Cách sáng tác trước năm 1975 của ông là những bức tranh hiện thực sinh động về con người và cuộc sống của nhân dân ta trong những năm chống Mĩ cứu nước. Với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn huyền ảo, những trang văn của Nguyễn Minh Châu đã từng tạo nên vẻ đẹp rực rỡ trong các tác phẩm như: "Mảnh trăng cuối rừng", "Dấu chân người lính", "Cửa sông"... Những năm sau 1975, ông là nhà văn sớm nhất có sự trăn trở, khao khát đổi mới văn học, bởi ông coi "văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người". Vì thế, từ khuynh hướng sử thi lãng mạn - "sự kiện lấn át con người", ông chuyển sang đề tài "thế sự đời tư" (cuộc sống đời thường) với tính triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá bản chất con người trong cuộc sống mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. Hai tập truyện ngắn "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành" (1983) và "Bến quê" (1985)với những bài tiểu luận phê bình văn học đã đưa Nguyễn Minh Châu lên vị trí "người mở đường tinh anh và tài năng" của văn học nước ta sau 1975. Đoạn trích "Bến quê" in trong tập truyện cùng tên của nhà văn, xuất bản năm 1985, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ "thế sự đời tư" ở giai đoạn sáng tác thứ hai. Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp cho nhà văn nhận ra những quy luật mang đầy tính nghịch lí, mâu thuẫn khó có thể lường hết được trong cuộc sống này. Điều đó đã được tác giả thể hiện qua việc khắc họa hình tượng nhân vật Nhĩ – một nhân vật tư tưởng gắn liền với những suy ngẫm, chiêm nghiệm triết lí về con người và cuộc đời.

Truyện được kể theo ngôi thứ ba nhưng toàn bộ diễn biến câu chuyện được nhìn qua lăng kính tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Nhĩ với một hoàn cảnh đặc biệt: sắp giã từ cuộc đời. Từ đó, giúp cho câu chuyện trở nên chân thực, sinh động, đồng thời toàn bộ tư tưởng, chủ đề của truyện được truyền tải một cách dễ dàng, tự nhiên, gần gũi và sâu sắc.

Nhĩ – một con người đã từng chu du đi khắp nơi trên trái đất với bất kể xó xỉnh nào anh cũng đã từng đặt chân tới nhưng đến phút giây cuối đời anh lại phải cột chặt thân mình bên giường bệnh. Và khi phải bó mình trên chiếc giường chật hẹp, không đi lại được anh mới chợt nhận ra vẻ đẹp giàu có của bãi bồi bên kia sông Hồng – nơi mà anh chưa từng đặt chân đến và vẻ đẹp tâm hồn của người vợ nhưng tiếc thay đã quá muộn màng.

Trước hết câu chuyện mở ra với những cảm nhận thật tinh tế của Nhĩ về vẻ đẹp của thiên nhiên, nơi bãi bồi bên kia sông vào buổi sáng sớm đầu thu. Khung cảnh được tạo dựng trong cái nhìn từ gần tới xa, từ thấp tới cao, từ mặt đất lên bầu trời của Nhĩ, rất đẹp, bình yên, thơ mộng, mang đậm hơi thở của làng cảnh quê hương. Cảnh như chất chứa, thấm thía cảm xúc, tâm trạng của con người nhân vật. Những bông hoa bằng lăng cuối mùa còn sót lại trên cành trở nên đậm sắc hơn; con sông Hồng như nhuốm một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng ra thêm; vòm trời cũng như cao hơn với những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bên kia sông. Và tất cả như "đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt hơi thở của đất màu mỡ". Không gian cảnh quê ấy với Nhĩ sao mà vừa thân thương, quen thuộc lại vừa lạ lẫm, mới mẻ đến vậy. Vẻ đẹp ấy ngày nào chẳng có, vẫn luôn thường trực quanh anh nhưng sao bây giờ sắp phải rời xa nó mãi mãi anh mới chợt nhận ra sự giàu có trù phú mĩ lệ của miền đất ấy. Vì thế, trong lòng Nhĩ dâng lên một niềm xót xa, pha lẫn sự nuối tiếc, ân hận: "từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất" nhưng " chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng, ngay trước cửa sổ nhà mình". Vì thế trong lòng anh rực lên một niềm khát khao cháy bỏng muốn được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông Hồng để chiêm ngưỡng và tận hưởng vẻ đẹp bình dị và gần gũi ấy. Nhưng tiếc thay, niềm hi vọng đó song hành cùng sự tuyệt vọng, bởi trong tình cảnh bệnh tật của bản thân, giờ đây anh không thể thực hiện được ước muốn tưởng chừng nhỏ bé, giản đơn đó nữa. Đây chính là sự thức tỉnh những giá trị bền vững, bình dị nhưng vô cùng sâu sa trong cuộc sống, những giá trị thường bị con người lãng quên, nhất là khi còn trẻ trước những ham muốn, khát vọng lôi cuốn. Sự thức này chỉ đến với những con người từng trải, đến với Nhĩ khi mà anh đang sắp giã từ cuộc đời này để trở về cõi hư vô. Cho nên, Nhĩ cảm thấy ân hận, xót xa: "Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận, đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết...".

Do không thể trực tiếp thực hiện được khát vọng đi tới "miền đất mơ ước" ấy nên Nhĩ đã nhờ vả đứa con trai thay mình đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Nhưng cậu bé đã không hiểu được ý cha nên nó chịu đi một cách miễn cưỡng và rồi bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế bên dọc đường, có thể làm lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Anh nhớ lại thời trai trẻ của mình cũng ham chơi như thế, vả lại nó cũng chưa nhận ra sự hấp dẫn bên kia sông, nên anh không trách cậu bé. Từ đó, anh rút ra một triết lí có tính chất tổng kết, chiêm nghiệm về qui luật của cuộc đời con người: "Con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình".

Trong lúc cậu con trai của anh bắt đầu ra đi thực hiện ước mơ của mình thì cũng là khi anh dùng chút tàn lực cuối cùng còn sót lại xê mình ra khỏi tấm nệm, lên chiếc phản gỗ để tới gần bên cửa sổ nhiều hơn. Việc làm ấy khiến anh "mệt lử", "đau nhức" như vừa đi "được nửa vòng trái đất". Còn nửa vòng nữa, anh buộc lòng phải nhờ cậy mấy bọn trẻ con hàng xóm giúp đỡ. Và anh cảm thấy mình thật buồn cười, y như một đứa trẻ toét miệng cười khi đang được tận hưởng sự chăm sóc và chơi với. Đến bên cửa sổ, Nhĩ nhìn thấy xa xa một cánh buồn trên mặt sông. Anh cảm tưởng như chính mình trong tấm áo màu xanh trứng sáo hay chiếc mũ nan rộng vành, như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dính phù sa. Nhĩ xúc động: "mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai con mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy. Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó". Hành động đó của Nhĩ thể hiện sự nôn nóng, thức giục con trai hãy mau mau đi đi không lại lỡ mất chuyến đò. Hay đó chính là điều mà tác giả muốn gửi gắm cho chúng ta đừng để mất thời gian vô ích cho những cái "chùng chình", "vòng vèo" trên đường đời mà hãy hướng tới những giá trị đích thực, giản dị, bền vững quanh ta.

Bằng ngòi bút đào sâu đến tận cùng cái thật chứa đầy bí ẩn, với tư tưởng "đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người", Nguyễn Minh Châu đã khắc họa thành công vẻ đẹp trong sáng, dịu dàng của người phụ nữ giàu lòng yêu thương, đức hi sinh, tận tụy vì chồng, vì con của một người vợ, người mẹ. Đó chính là Liên (vợ Nhĩ). Tất cả điều này đã được Nhĩ cảm nhận trong những giầy phút cuối cùng của cuộc đời khi bên cạnh gia đình, trong vòng tay chăm sóc, vỗ về, động viên của vợ con. Lần đầu tiên Nhĩ mới để ý thấy Liên mặc tấm áo vá, những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai của anh và Nhĩ chợt nhận ra tình yêu thương, sự tần tảo cùng sự hi sinh một cách thầm lặng của vợ. Anh đã nói với Liên: "Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm mà em vẫn nín thinh". Và Liên đáp lại câu trả lời ấy: "Có hề sao đâu, miễn là anh sống, luôn luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong gian phòng này". Và thực sự giờ đây, Nhĩ mới thấm thía hết được vẻ đẹp tâm hồn đó của Liên với lòng biết ơn sâu nặng: "Cũng như cảnh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia sông, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa và cũng nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu tìm kiếm... Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này". Nhĩ một con người của thời đại mới chỉ biết chạy theo những ước vọng xa vời mà lãng quên đi những vẻ đẹp bình dị, thân quen mà mình đang có. Để rồi khi vấp ngã, khi phải sắp chia xa với cuộc sống này vĩnh viễn thì anh mới chịu nhận ra quê hương, gia đình, người vợ mới là bến đậu, là nơi nương tựa bình yên và vững chắc nhất cho con người sau hành trình đi xa trở về. Mặc dù nhận thức của Nhĩ dẫu có chút muộn màng nhưng dù sao anh cũng đã kịp nhận ra trước sự sai lầm của mình, giúp anh cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng hơn.

Nhân vật Nhĩ là kiểu nhân vật tư tưởng, chứa đựng ý đồ sáng tác nghệ thuật của nhà văn. Tuy nhiên nhân vật không phải là "cái loa phát thanh" của nhà văn mà Nguyễn Minh Châu đã khéo léo dựng lên một cuộc đời, một số phận với một hoàn cảnh éo le, nghịch lí. Để rồi, nhân vật tự đúc rút, chiêm nhiệm ra những chân lí, bài học có tính tổng kết về con người và cuộc đời. Qua đó, ta thấy được tài năng dựng truyện, khắc họa miêu tả tâm lí nhân vật và nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Minh Châu thật tài tình, độc đáo. Khép lại "Bến quê", hình ảnh nhân vật Nhĩ cứ lần lượt hiện lên với biết bao nhiêu những bài học triết lí sâu sắc giàu tính nhân văn của cuộc sống con người. Từ đó, ta càng thấm thía hơn và biết trân trọng hơn những giá trị vững bền, bình dị, gần gũi quanh ta như gia đình, quê hương.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê - mẫu 2

Nguyễn Minh Châu một trong những nghệ sĩ đổi mới âm thầm mà quyết liệt nhất của văn học Việt Nam sau năm 1986. Bởi vậy ông được đánh giá là người mở đường tinh anh và tài hoa của văn học nước nhà. Cả cuộc đời ông là hành trình khám phá, tìm tòi không ngừng nghỉ trong việc đổi mới cách viết. Bến quê chính là một trong những tác phẩm như vậy. Với nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm những triết lí sâu sắc của con người, của cuộc đời.

Cuộc đời, số phận của nhân vật này được tác giả dựng lên bằng hàng loạt các nghịch lí, và cũng từ chính những nghịch lí đó, Nhĩ đã nhận ra, đã chiêm nghiệm biết bao điều trong cuộc sống mà bấy lâu nay anh vô tình hoặc cố ý lãng quên. Cái hay của tác phẩm chính là ở chỗ đó.

Nghịch lí thứ nhất trong cuộc đời Nhĩ đó là cả đời di chuyển khắp nơi, không thiếu một xó xỉnh nào trên thế giới, ấy vậy mà những ngày cuối cùng của cuộc đời anh lại phải chôn chân giữa một tấm phản, mọi sự di chuyển đều khó khăn và phải nhờ đến sự giúp đỡ của người khác. Anh đi khắp mọi nơi nhưng cái bãi bồi bên kia sống Hồng, ngay trước mặt anh, anh lại chưa một lần đặt chân đến. Đây chính là một ngịch lí vô cùng đáng buồn. Người vợ tảo tần, những đứa trẻ hàng xóm đáng yêu, vậy mà bấy lâu nay anh bỏ bê vô tình hay cố ý lãng quên mất. Chỉ đến thời khắc ấy, khi bình tâm, anh mới nhận ra tất cả vẻ đẹp vốn có trong họ, để rồi xót xa, tiếc nuối về những gì đã qua. Đặt nhân vật vào một chuỗi những nghịch lí để rồi từ đó giúp Nhĩ nhận ra những gì mình đã bỏ lỡ, những giá trị đích thức của cuộc sống. Đồng thời cũng gửi gắm đến bạn đọc thông điệp: trong bước đường đời khó tránh khỏi những vòng vèo, chùng chính, chúng ta cần tỉnh tảo để nhận thấy và trân trọng những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.

Nhĩ nằm đó trong những nỗi rối bời của cảm xúc, suy tư để rồi tự sám hối, tự nhận thức. Nhận thức đầu tiên chính là cảm xúc về khung cảnh thiên nhiên. Anh nhận ra những bông bằng lăng cuối mùa đã đậm sắc hơn, dòng sông Hồng mang màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra, và xa xa là cánh buồm màu nâu bạc,… Mọi thứ đã phô diễn trước khung cửa nhà anh, “màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”. Một chân trời ần gũi đến vậy, nhưng đối với Nhĩ “lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến – cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình”. Có chăng đây chính là những tâm tư của con người đã từ đi đến bốn phương, nhưng phương quê nhà lại vô tình lãng quên. Đây cũng chính là những cái chùng chình, vòng vèo mà Nhĩ gặp phải trong cuộc sống, bởi vậy, trong giờ phút ngắn ngủi cuối đời anh càng cảm thấy tiếc nuối, xót xa hơn.

Sau những chiêm nghiệm về thiên nhiên, Nhĩ hướng mắt về người vợ suốt một đời của mình – chị Liên. Anh thấy ở chị đức tính dịu dàng, chu đáo, một đức hi sinh thầm lặng. Chiếc áo vá chị đã mặc biết bao năm, đôi tay gầy guộc, cư xử tinh tế để không khiến chồng lo lắng. Và Nhĩ chợt nhận ra sự nghiệt ngã của thời gian đối với mình, cả đời anh không quan tâm đến vợ con nhưng đến những ngày cơ cực, vợ anh vẫn tảo tần ở bên, Nhĩ cay đăng thốt lên: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm … mà em vẫn nín thinh”. Cho đến cuối đời Nhĩ mới nhận ra được cái đẹp trong tâm hồn vợ : cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm… Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này. Nhưng mọi sự ân hận của Nhĩ dường như đã quá muộn màng. Những ngày tháng dài rộng anh lại chẳng thể ở bên, đến khi nhận ra thì đã bước sang cái dốc bên kia của cuộc đời.

Từ những cảm nhận về thiên nhiên và vợ, Nhĩ nhận thấy vẻ đẹp muôn thuở của quê hương: “Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất” đã thức dậy trong anh khao khát mãnh liệt được sang bãi bồi bên kia sông. Nơi tưởng gần mà đối với anh đã xa lắc, bởi vậy anh đã gửi gắm nguyện ước đó vào người con trai mới lớn của mình. Nhưng Tuấn – con trai anh, lại không hiểu cái thế giới mơ ước của cha, không hiểu được cái đẹp trong nét tiêu sơ ấy mà đã sa vào một ván cờ thế ven đường. Những hành động của Tuấn cũng chính là hình ảnh phản chiếu của Nhĩ thuở nào. Anh chẳng thể trách con, bởi chính bản thân mình cũng đã không tránh được những cái vòng vèo, chùng chình cuộc đời, để rồi cuối cùng chỉ còn mang nặng nỗi tiếc nuối trong tâm hồn.

Nhưng có lẽ hình ảnh ấn tượng và in dấu ấn đậm nét nhất trong lòng người đọc là khi Nhĩ có cử chỉ khác thường lúc nhìn thấy con thuyền duy nhất trong ngày từ từ đi sang sông. Anh bám chặt tay vào cửa sổ, đôi mắt long lạnh sáng một cách khác thường, anh run lên vừa say mê vừa đau khổ, cố bám víu niềm hạnh phúc cuối cùng của mình. Bằng chút sức lực tàn cuối cùng anh “đu mình, nhô người ra ngoài cửa sổ” như để với tới gần hơn miền đất đẽ đẹp trong mơ ước của mình. Cánh tay anh khoát khoát với con thuyền có lẽ cũng chính là lời tạ từ cuối cùng anh dành cho quê hương, tạm biệt mơ ước cả đời anh không thể thực hiện, tạm biệt với những gì thân thương, gần gũi nhất trong cuộc đời anh. Hành động cuối cùng của anh cũng chính là lời nhắc nhở, lời cảnh tỉnh đối với tất cả mọi người, hãy sống một cuộc đời có ích, hướng đến những giá rị đích thực của cuộc sống, đừng theo đuổi những điều xa vời, mà hãy trân trọng những tình cảm đẹp đẽ tồn tại xung quanh ta.

Với nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật tài tình, Nguyễn Minh Châu đã làm sắc nét chiều sâu tâm lí nhân vật. Qua đó làm toát lên những suy nghĩ, chiêm nghiệm về con người và cuộc đời. Để từ đó gửi gắm đến bạn đọc những bài học ý nghĩa của cuộc sống.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê - mẫu 3

Nội dung tư tưởng của "Bến quê" được thể hiện qua những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ.

Trước hết là cảm nhận của Nhĩ về vẻ đẹp thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu, được nhìn từ khung cửa sổ của căn phòng mình.

Cảnh vật được miêu tả theo tầm nhìn của Nhĩ, từ gần đến xa, tạo thành một không gian có chiều sâu, chiều rộng.

Cảnh đó có những vẻ đẹp riêng mà được cảm nhận bằng những cảm xúc tinh tế. Những chùm hoa bằng lăng thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn, con sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra, vòm trời như cao hơn, "những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ như một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ". Không gian và những cảnh sắc ấy vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng lại rất mới mẻ với Nhĩ, tưởng chừng như lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó.

Từ cảnh vật, hoàn cảnh của mình Nhĩ đã phát hiện quy luật giống như một nghịch lý của đời người.

Hoàn cảnh của Nhĩ bệnh tật hiểm nghèo kéo dài, mọi sự phải trông cậy vào sự chăm sóc của vợ con. Trong cái buổi sáng đó, Nhĩ đã nhận ra như bằng trực giác, thời gian của mình như chẳng còn bao lâu nữa (chú ý những chi tiết: câu hỏi của Nhĩ với Liên: "Đêm qua lúc gần sáng em có nghe thấy tiếng gì không?" và "Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?", còn Liên thì hầu như cũng đã cảm nhận được tình cảm ấy của Nhĩ, nên chị lảng tránh trả lời những câu hỏi của anh).

Lần đầu tiên Nhĩ để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá, những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai của anh, và Nhĩ nhận ra tất cả tình yêu thương, sự tần tảo và đức hi sinh thầm lặng của vợ (Nhĩ nói với Liên: "Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ... mà em vẫn nín thinh", còn Liên đã trả lời: "Có hề sao đâu ... Miễn là anh sống, luôn có mặt anh, tiếng nói của anh trong nhà này". Chính trong những ngày cuối đời, Nhĩ mới thật sự thấu hiểu lòng biết ơn sâu sắc với người vợ: "cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên nét tảo tần và chịu đựng hi sinh từ bao thời xưa, và cũng chính nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm ... Nhĩ đã thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này".

Chính vào buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra tất cả vẻ đẹp của cảnh vật rất đỗi bình dị và gần gũi qua ô cửa sổ căn phòng, đồng thời cũng hiểu rằng mình sắp phải giã biệt cõi đời, ở Nhĩ bừng dậy một niềm khao khát vô vọng là được đặt chân một lần lên bãi bồi bên kia sông. Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống – những giá trị thường bị người ta bỏ qua, lãng quên, nhất là lúc còn trẻ, khi những ham muốn xa vời đang luôi cuốn con người tìm đến. Sự thức nhận này chỉ đến được với người ta ở cái độ đã từng trải, bởi thế đó là sự thức tỉnh có xen với niềm ân hận và nỗi xót xa "Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân sắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia".

Không thể nào làm được cái điều mình khao khát, Nhĩ đã nhờ đứa con trai thay mình đi sang bên kia sông, đặt chân lên cái bãi bồi phù sa màu mỡ. Nhưng ở đây anh lại gặp một nghịch lý nữa: Đứa con không hiểu được ước uốn của cha, nên làm một cách miễn cưỡng và rồi lại bị cuốn hút vào trò chơi nó hấp dẫn nó gặp ngay trên đường đi, để rồi có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Từ sự việc ấy, Nhĩ đã nghiệm ra được cái quy luật phổ biến của đời người "con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình". Anh không trách đứa con trai bở vì "vả lại nó đã thấy gì đáng hấp dẫn ở bên kia sông đâu".

Ở cuối truyện, khi thấy con đò ngang vừa chạm mũi đất bên này sông, Nhĩ đã thu hết tàn lực dồn vào một cử chỉ có vẻ kỳ quặc "Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát – y nhưng đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó". Hành động cuối cùng này của Nhĩ có thể hiểu là anh đang nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Nhưng hình ảnh này còn gợi ra ý nghĩa khái quát đó. Đó là ý muốn thức tỉnh mọi đường đời, để dứt khoát khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững.

Nhân vật Nhĩ trong truyện là nhân vật tư tưởng, một loại nhân vật nổi lên trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau 1975. Nhà văn đã gửi gắm qua nhân vật nhiều điểm quan sát, suy ngẫm, triết lý về cuộc đời con người. Nhưng nhân vật không bị biến thành cái loa phát ngôn cho tác giả. Những chiêm nghiệm, triết lý đã được chuyển hóa vào cuộc sống nội tâm của nhân vật, với diễn biến của tâm trạng dưới sự tác động của hoàn cảnh được miêu tả tinh tế, hợp lý.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê - mẫu 4

Cuộc sống muôn màu muôn vẻ đã tạo nên trong con người khao khát được khám phá những gì mới mẻ, lạ lẫm. Bởi vậy, nhiều khi con người cứ dấn thân và mơ ước đến được một miền đất xa xôi nào đó mà quên đi những giá trị gần gũi, thân thương. Như một bài học nhẹ nhàng nhưng thấm thía về tình người, tình đời, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng thành công nhân vật Nhĩ - một con người của “mọi chân trời” nhưng tới cuối đời vẫn chưa đến được bãi bồi đối diện mình - nơi thuộc về quê hương, xứ sở.

Toàn bộ cốt truyện của Bến Quê xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời. Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy. Bị cột chặt trên giường bệnh, Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông. Cảnh vật nơi ấy đẹp như thơ như hoa: Những bông bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng đậm sắc, con sông Hồng màu đỏ nhạt, ánh nắng sớm, vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông… Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưng dường như rất mới mẻ đối với anh.

Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót, bởi một người “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất” lại chưa từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình”. Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giường bệnh. Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con. Sáng hôm ấy, bằng trực giác, anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa, anh mới cảm nhận thấm thía về người vợ của mình. Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá”, “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh”, anh nói với vợ những lời xót xa, ân hận: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm”. Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó, mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm, Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này ”.

Nhĩ - con người của một thời huy hoàng, cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của Bến quê cũng như sự tảo tần và đức hy sinh của vợ. Trước khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ, vô tình với tất cả những gì gần gũi xung quanh, kể cả người vợ suốt một đời yêu thương và tận tụy. Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên, tin cậy sau cả một đời bôn tẩu, kiếm tìm.

Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế. Cũng trong buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ, Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình dị mà sâu xa của cuộc sống, những giá trị dễ bị ta vô tình bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi, cuốn người ta đi. Sự nhận thức này chỉ đến được với ta khi đã từng trải. Với Nhĩ, đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giường bệnh. Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa: “Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đẹp của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn”. Với anh, bây giờ đó thực sự là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm”.

Không thể tự làm điều mình khao khát, Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông, đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ. Oái oăm thay, đứa con không hiểu ước muốn của cha,đã đi một cách miễn cưỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố. Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời người “Con người ta trên đường đời thật khó tránh được những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hấp dẫn bên kia sông đâu”.

Ở cuối truyện, khi Nhĩ tưởng tượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên mặt đất dấp dính phù sa. Nhĩ xúc động mạnh, chân dung anh khác thường “mặt mũi đỏ rựng, hai mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ”. Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này, Nhĩ thu hết tàn lực, đu người lên cửa sổ, giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”. Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày? Và dường như nó còn có ý nghĩa khái quát hơn: Muốn thức tỉnh mọi người vượt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đường đời để hướng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững !

Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức, suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm. Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp, tinh tế, giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm, suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn tượng riêng cho tác phẩm.

Những dòng cuối cùng của Bến quê khép lại nhưng dư âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con người dường như vẫn còn lan tỏa đâu đây, thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương, xứ sở. Tác giả tạo ra hoàn cảnh đối nghịch: nhân vật Nhĩ là người từng trải từng đi khắp thế giới nhưng cuối đời lại bị bó buộc nơi giường bệnh trong khoảng thời gian đó, anh đã nhìn ngắm được những vẻ đẹp mà không nơi nào khác trên thế gian mà anh cảm thấy được đó chính là quê hương anh với những bông hoa bằng lăng tím nhợt nhạt, những bãi bồi phù sa, những con người thôn quê chân chất thật thà giàu lòng nhân ái, gia đình thân yêu với người vợ sớm hôm tần tảo vì chồng, đứa con trai ngoan hiền hiếu thảo, những cô cậu bé ngây thơ tốt bụng, và đặc biệt là cái bến quê quá đỗi thân thuộc mà anh chưa bao giờ đặt chân đến trong cuộc sống đừng nên vì những thứ vật chất xa vời mà bỏ quên những giá trị tinh thần hết sức giản dị nhưng ẩn chứa những ý nghĩa vô cùng lớn lao.

Đó chính là lời khuyên chân thành tác giả muốn nhắn nhủ với các độc giả. Nhân vật Nhĩ có một hoàn cảnh thật đặc biệt. Lúc còn trẻ anh đã đi khắp nơi trên thế giới nhưng cuối đời lại bị cột chặt trên giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo, đến nhích người về phía cửa sổ cũng phải có người đỡ. Và trong cái hoàn cảnh éo le ấy, anh chợt nhận ra vẻ đẹp bình dị của Bến quê, nhận ra cái quý nhất trong cuộc đời mình chính là gia đình. Nổi bật ở nhân vật Nhĩ là tình yêu gia đình. Anh rất yêu vợ. Chẳng phải vì thế mà anh đã nghĩ: “Tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và hy sinh từ bao đời xưa” và Nhĩ cũng rất yêu quí con. Anh muốn nhờ Tuấn sang bãi bồi bên kia sông không chỉ vì đó là ước mơ mà anh không thực hiện được mà còn vì anh không muốn Tuấn giống như mình: bỏ qua cái đẹp bình dị của quê hương để chạy theo cái hào nhoáng nhất thời để rồi đến khi hối hận cũng không kịp.

Nhĩ không muốn sau này con anh phải chịu cái ân hận đau đớn mà anh đang chịu. Nhưng cao hơn tình yêu gia đình chính là tình yêu quê hương xứ sở, cái Bến quê bình dị. Anh từng đi tới bất cứ nơi xó xỉnh nào trên trái đất nhưng lại chưa một lần đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Điều đó dày vò Nhĩ không thôi. Anh cảm thấy có lỗi với cái mảnh đất đã nuôi anh khôn lớn. Đó chẳng phải là tình yêu anh dành cho quê hương mình sao? Và cũng chính cái tình cảm ấy đã thôi thúc Nhĩ đặt chân lên cái bãi bồi thân thương ấy đến nỗi trở thành một khao khát, cái khao khát mà anh đã tin cậy nhờ Tuấn thực hiện giúp nhưng anh chàng lại sa vào đám chơi cờ thế. Cái tình yêu, cái khao khát ấy như được đẩy lên cao nhất ở chi tiết cuối cùng: “Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”.

Bến quê là một nốt lặng trầm tư về việc nhận ra giá trị đích thực của những thứ tưởng chừng đơn giản xung quanh ta. Đó là bài học mà nhà văn họ Nguyễn đã dùi mài suốt bao nhiêu năm sống thăng trầm của mình. Hãy biết trân trọng những gì gần gũi nhất nơi quê hương, xóm làng. Vì có nó cuộc đời mỗi người mới có ý nghĩa thực sự.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê - mẫu 5

Nhĩ thuộc kiểu nhân vật tư tưởng trong tác phẩm có tính chất luận đề nhưng nhân vật vẫn hiện ra một cách sống động vì nhà văn đã tạo ra được một tình huống truyện tự nhiên, éo le qua đó phân tích tiến trình tâm lý nhận thức.

Nguyễn Minh Châu không nói nhiều về quá khứ của Nhĩ nhưng người đọc vẫn có thể hình dung Nhĩ là người thành đạt trong công việc, anh được đi nhiều nơi, được mở mang tầm mắt. Tuy nhiên trong hiện tại này anh lại rơi vào hoàn cảnh trớ trêu: Căn bệnh quái ác đã buộc anh phải nằm liệt giường, mọi sinh hoạt đều phải trông cậy vào vợ con. Được sống chậm lại, Nhĩ có thời gian để quan sát nhìn ngắm xung quanh. Anh bỗng nhận ra rằng ở cái Bến quê này có bao nhiêu điều đẹp đẽ quý giá mà bao nhiêu năm qua anh đã vô tình không nhận ra. Đầu tiên là những sắc hoa bằng lăng màu tím thẫm, rồi bầu trời, mặt sông... Tất cả đem đến cho anh một cảm giác bình yên. Đặc biệt lần đầu tiên Nhĩ nhận ra vợ mình mặc áo vá. Một người vợ hiền thảo, chăm chút cho anh không một lời ca than. Những đứa trẻ hàng xóm vô tư giúp Nhĩ "đi nửa vòng trái đất", lời trò chuyện của ông giáo Khuyến...Tất cả những điều tưởng như rất nhỏ bé, bình thường ấy đã làm cho Nhĩ xúc động. Anh như bừng tỉnh ra giữa một cơn mê dài. Lâu nay anh sống như một khách lạ ngay giữa gia đình và quê hương.

Hình ảnh những bông hoa bằng lăng cuối mùa màu sắc như đậm hơn, tiếng những tảng đất lở ở bờ sông khi con lũ đầu nguồn đổ về gợi cho Nhĩ linh cảm về sự sống mong manh, ngắn ngủi của mình.

Nhĩ đã muốn từ đó mà sửa chữa sai lầm. Anh muốn biết nhiều hơn về những khoảng không gian của quê hương mà nay bước chân anh không thể đặt tới. Nhĩ đã tìm ra được một giải pháp là nhờ cậu con trai. Khi nghe thấy lời đề nghị của bố, Tuấn tỏ ra ngạc nhiên. Nó không thể hiểu ra ý định sâu xa của người cha. Nhĩ không chỉ muốn nó giúp anh mà còn muốn tự nó sớm tránh khỏi những sai lầm mà anh mắc phải dẫn đến những ân hận tiếc nuối lâu nay.

Bi kịch của Nhĩ đã bị đẩy lên cao theo mỗi bước chân của cậu con trai. Tuấn không chỉ giống Nhĩ về ngoại hình, và thật đáng buồn cậu con trai ấy lại giống anh cả về những sai lầm. Nó đã quên mất lời cha dặn vì có một thứ quyến rũ hơn: đó là phá cờ thế. Rất có thể nó đã không về kịp chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Hình như Nhĩ dự cảm được điều ấy, anh rút ra một triết lý vừa là cảm thông, vừa chứa đựng nỗi xót xa, chua chát: Con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, khó tránh khỏi những sai lầm. Để nhận ra và sửa chữa nó, người ta phải mất một quãng thời gian dài và phải trả những cái giá rất đắt.

Ở cuối câu chuyện, ta bắt gặp một cảnh tượng thật đáng thương và đáng suy ngẫm. Mặt Nhĩ đỏ rựng lên, anh thu tất cả sức lực giơ bàn tay lên khoát khoát như ra hiệu cho một ai đó, như đang khẩn thiết ra hiệu cho một ai. Người ấy có thể là con trai anh nhưng người đọc cũng có thể hiểu rằng đây chính là cái khoát tay giục giã của chính Nguyễn Minh Châu dành cho chúng ta: hãy biết tìm về với những giá trị đích thực của cuộc đời.

Xây dựng nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện ngòi bút nghệ thuật đặc sắc của mình và một tình huống đầy nghịch lý, đi sâu vào khám phá đời sống nội tâm, lựa chọn được những chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng, trần thuật bằng giọng văn vừa mang màu sắc trữ tình, vừa giàu tính triết lý.

Qua nhân vật này Nguyễn Minh Châu gửi đến chúng ta thông điệp giàu giá trị nhân văn: hãy biết trân trọng và tìm ra ý nghĩa cuộc sống từ những điều bình dị nhất xung quanh mình, khi ấy gia đình và quê hương sẽ là cái "bến" bình yên với mỗi chúng ta trong hành trình làm người của mình.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê - mẫu 6

Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nước nhà. Truyện ngắn của ông thường chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con người và cuộc đời. "Bến quê" là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó. 

Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời. Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy. Bị cột chặt trên giường bệnh, Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông. Cảnh vật nơi ấy đẹp như thơ như hoạ: Những bông bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng đậm sắc, con sông Hồng màu đỏ nhạt, ánh nắng sớm, vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông ... Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưng dường như rất mới mẻ đối với anh. Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót, bởi một người "đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất" lại chưa từng đặt chân lên "cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình".

Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giường bệnh. Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con. Sáng hôm ấy, bằng trực giác, anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa, anh mới cảm nhận thấm thía về người vợ của mình. Nhĩ để ý "thấy Liên mặc áo vá", "những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh", anh nói với vợ những lời xót xa, ân hận: "Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm". Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi "tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó, mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm, Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này". Nhĩ - con người của một thời huy hoàng, cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng như sự tảo tần và đức hy sinh của vợ. Trước khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ, vô tình với tất cả những gì gần gũi xung quanh, kể cả người vợ suốt một đời yêu thương và tận tuỵ. Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên, tin cậy sau cả một đời bôn tẩu, kiếm tìm.

Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế. Cũng trong buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ, Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình dị mà sâu xa của cuộc sống, những giá trị dễ bị ta vô tình, bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi, cuốn người ta đi. Sự nhận thức này chỉ đến được với ta khi đã từng trải. Với Nhĩ, đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giường bệnh. Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa: "Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đẹp của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn". Với anh, bây giờ đó thực sự là miền đất xa lắc vì Nhĩ "lực bất tòng tâm". Không thể tự làm điều mình khao khát, Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông, đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ. Oái oăm thay, đứa con không hiểu ước muốn của cha, đã đi một cách miễn cưỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố. Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời người "Con người ta trên đường đời thật khó tránh được những điều vòng vèo hoặc chùng chình". Anh không trách con vì "nó đã thấy gì hấp dẫn bên kia sông đâu".

Ở cuối truyện, khi Nhĩ tưởng tượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên mặt đất dấp dính phù sa. Nhĩ xúc động mạnh, chân dung anh khác thường "mặt mũi đỏ rựng, hai mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ". Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này, Nhĩ thu hết tàn lực, đu người lên cửa sổ, giơ cánh tay gầy guộc "khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó". Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày? Và dường như nó còn có ý nghĩa khái quát hơn: Muốn thức tỉnh mọi người vượt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đường đời để hướng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững!

Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức, suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm. Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp, tinh tế, giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm, suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn tượng riêng cho tác phẩm.

Những dòng cuối cùng của "Bến quê" khép lại nhưng dư âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con người dường như vẫn còn lan toả đâu đây, thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương, xứ sở.

Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê - mẫu 7

Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Với quan niệm viết văn là “đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”, tác giả đã cố gắng lách ngòi bút của mình vào sâu thế giới nội tâm nhân vật để tìm kiếm những hạt ngọc tiềm tàng. Nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê được xây dựng theo quan điểm đó. Bằng ngòi bút khắc họa tâm lí tài tình, Nguyễn Minh Châu đã đưa người đọc vào thế giới tâm trạng của Nhĩ trong một buổi sáng đầu thu, qua đó gửi đến độc giả những bài học triết lí nhân sinh về cuộc đời con người.

Xây dựng nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu đã đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le, ngặt nghèo trong những ngày cuối đời. Là người đã từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, vậy mà cuối đời Nhĩ lại bị buộc chặt trên giường bởi một căn bệnh quái ác khiến anh gần như liệt toàn thân và sự sống của Nhĩ gần như cạn kiệt. Khai thác tình huống này, tác giả phát hiện và nhấn mạnh vào những nghịch lí trong cảnh ngộ của anh : Là người đã từng đi khắp thế giới nhưng Nhĩ lại chưa từng đặt chân lên cái bãi bồi màu mỡ ngay phía bên kia sông, từng bay những chuyến bay vượt nửa vòng trái đất nhưng nay lại không nhích được mình dịch chuyển vài mươi phân trên giường bệnh. Đứa con trai mà anh nhờ thay mình thực hiện điều khao khát là đặt chân lên bờ bãi phía bên kia sông lại mải mê sa vào một đám chơi cờ thế trên hè phố, có thể lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Tạo ra một chuỗi những tình huống nghịch lí như trên, tác giả muốn lưu ý người đọc rằng cuộc sống và số phận của con người chứa đựng những điều bất thường, những nghịch lí, ngẫu nhiên vượt ra ngoài những dự định, ước muốn, những hiểu biết và tính toán của chúng ta. Ngoài ra, tác giả còn muốn nhắn nhủ với người đọc : chúng ta thường hay hướng đến những điều cao xa mà vô tình không biết đến những vẻ đẹp gần gũi ngay bên cạnh mình như vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông đối với nhân vật Nhĩ.

Nằm trên giường bệnh, Nhĩ suy ngẫm và nhận ra nhiều điều. Trước tiên, anh nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên xung quanh mình, vẻ đẹp của buổi sáng đầu thu được nhìn từ cửa sổ căn phòng. Cảnh vật được miêu tả trong tầm nhìn của anh, từ gần đến xa, tạo thành một không gian vừa có chiều sâu vừa có chiều rộng : những bông hoa bằng lăng ngay phía cửa sổ, con sông Hồng phía xa xa với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu, mặt sông như rộng thêm ra, vòm trời cũng cao hơn, những tia nắng sớm di chuyển trên mặt nước, cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông với sắc màu quen thuộc. Đó chính là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp diễn ra hàng ngày mà đến hôm nay Nhĩ mới thấy. Tất cả đều được anh cảm nhận bằng những cảm xúc rất tinh tế. Không gian và những cảnh vật ấy vốn quen thuộc, gần gũi nhưng lại như rất mới mẻ với Nhĩ. Có lẽ đây là lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó. Cái nhìn ấy thể hiện niềm tha thiết với cuộc sống, với vẻ đẹp bình dị mà sâu xa của thiên nhiên, của quê hương ở nhân vật Nhĩ.

Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên, Nhĩ còn có dịp suy ngẫm về hoàn cảnh riêng của mình. Nếu như trước kia anh có thể đi khắp nơi trên trái đất thì giờ đây hoàn cảnh khiến anh phải hoàn toàn trông cậy vào sự chăm sóc của vợ con. Trong cái buổi sáng đó, có lẽ bằng trực giác, chính Nhĩ đã cảm nhận được thời gian còn lại của đời mình rất ngắn ngủi. Chính vì thế, anh đã thức nhận ra nhiều điều hơn chăng ? Sống cả đời bên người vợ tảo tần nhưng sáng hôm đó, lần đầu tiên anh “để ý thấy Liên đang mặc tấm áo vá”, cảm nhận được “những ngón tay gầy guộc, âu yếm vuốt ve bên tai” và anh cũng nhận ra tất cả sự tảo tần, vất vả, hi sinh trong lặng thầm của Liên. Trong những ngày cuối đời này, Nhĩ mới thấu hiểu với lòng biết ơn sâu sắc người vợ của mình : “cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tào và chịu đựng hi sình từ bao đời xưa, và cũng chính nhờ có điều đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm… Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này”. Anh cũng nhìn kĩ gương mặt đứa con trai thân yêu và nhận ra nó có nhiều điểm giống mình. Nhĩ yêu lũ trẻ nhỏ con nhà hàng xóm với những ngón tay “chua lòm mùi nước dưa” cố giúp anh xê dịch trên giường. Đó là những cảm xúc nhẹ nhàng xuất hiện trong tâm trí Nhĩ. Trước khi từ giã cõi đời, Nhĩ vẫn không hể bi quan, anh khao khát được khám phá mọi vẻ đẹp của cuộc sống mà trong chuỗi ngày đã qua anh chưa kịp khám phá. Anh trân trọng nhũng tình cảm thiêng liêng của gia đình, của con người. Những tình cảm ấy đang diễn ra trong lòng một người sắp từ giã cõi đời, thật đáng trân trọng. Qua đó, người đọc cũng nhận ra cái nhìn thấm đượm tinh thần nhân đạo của Nguyễn Minh Châu.

Không chỉ có những tình cảm rất đáng quý với thiên nhiên quanh mình, với những người thân yêu, lần đầu tiên Nhĩ cũng nhận ra vẻ đẹp đặc biệt của bãi bồi phía bên kia sông, nhận thấy những sắc màu quen thuộc như da thịt, như hơi thở của đất đai màu mỡ. Nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn mà cả đời mình không nhận ra, anh khao khát được đặt chân lên nơi đó. Và trớ trêu thay, với “con người đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất như Nhĩ, cái bờ bãi bên kia sông giờ đây lại trở thành “một chân trời gần gũi mù lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến”. Việc Nhĩ khao khát được đặt chân lên vùng đất ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bình dị, bền vững mà sâu xa của đời sống. Những giá trị thường bị chúng ta lãng quên, vô tình lại chính là những điều giản dị, mộc mạc, đơn sơ như gia đình, quê hương vì khi còn trẻ, con người dễ chạy theo những ham muốn xa vời. Sự thức nhận này chỉ đến vói con người khi họ đã từng trải, đã thấm thía những sướng vui và cay đắng…

Cùng với sự thức tỉnh đó là những nỗi xót xa cay đắng, vì ân hận, vì nuối tiếc. Nhĩ cũng nhận ra khi anh biết đến giá trị giản dị nhưng đích thực của cuộc sống thì anh lại không còn nhiều thời gian và khả năng để thực hiện nó nữa. Càng trớ trêu hơn khi Nhĩ nhờ con trai mình thực hiện cái ước muốn nhỏ bé ấy thì con anh lại không thể hiểu được niềm khao khát của cha nó nên nó thực hiện một cách miễn cưỡng để rồi bị cuốn hút theo trò chơi hấp dẫn mà nó gặp trên đường đi. Rất có thể nó sẽ lỡ mất chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Từ hoàn cảnh éo le của mình, từ việc làm của đứa con, Nhĩ đã chiêm nghiệm ra cái quy luật phổ quát của cuộc đời : “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Chính vì hiểu được quy luật này nên anh không trách con mình, bởi cũng như anh trước đây “nó đã thấy có gì hấp dẫn ở phía bên kia sông đâu”.

Đến cuối truyện, chúng ta thấy hành động đặc biệt của Nhĩ : “mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ, cả mười đẩu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cúi bậu cửa sổ… Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào”. Có lẽ anh đang khẩn thiết ra hiệu cho con trai của mình, sợ nó “chùng chình”, sẽ lỡ mất cơ hội sang sông. Dường như Nhĩ cũng muốn thức tỉnh chúng ta về những điều vòng vèo, “chùng chình” để rút ra khỏi đó, hướng đến những giá trị đích thực, giản dị và gần gũi.

Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn đi được xa nhất trên con đường đổi mới văn học. Với ngòi bút khắc họa tâm lí nhân vật tinh tế và thấm đượm tinh thần nhân văn, ông đã xây dựng thành công một nhân vật Nhĩ với những trạng thái cảm xúc chân thực. Nhân vật Nhĩ trong truyện là một kiểu nhân vật tư tưởng với những trăn trở, những nghĩ suy để tự nhận thức chính mình, tự nhận thức về cuộc đời. Đọc truyện, tự chúng ta, mỗi độc giả đều sẽ rút ra những bài học cho riêng mình.

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 9 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Giới thiệu kênh Youtube hoconline