Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh hay nhất (dàn ý - 3 mẫu) - Ngữ văn lớp 9



Đề bài: Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Dàn ý Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

1. Mở bài

+Giới thiệu về tác phẩm "Vũ Trung tùy bút"

+Giới thiệu đoạn trích "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh".

2. Thân bài

- Thói ăn chơi hưởng lạc xa hoa, vô độ của chúa Trịnh Sâm

+Chúa cho xây dựng nhiều đình đài, cung điện ở nhiều nơi "phủ Tây Hồ, núi Dũng Thúy, núi Trầm" chỉ để thỏa thú vui chơi, đèn đuốc.

→ Sư xây dựng vì mục đích cá nhân này gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân.

+Thường xuyên tổ chức những cuộc vui chơi ở bờ Tây Hồ "mỗi tháng ba bốn lần" -> huy động nhiều người, binh lính, nhạc công dàn quanh, bày trò "mua bán như ở trong chợ"--> Lố lăng, giả dối, tốn kém.

+Thu vén hết những loài "trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch" trong dân gian để làm đẹp cho phủ chúa.

+Vì công việc thu vén ấy mà điều động nhiều người, "cả một cơ bình" → Tốn kém, kì công.

→ Phạm Đình Hổ đã ghi chép tỉ mỉ, chân thực về thú ăn chơi của chúa Trịnh Sâm mà không một lời bình

+Sự ăn chơi ấy báo hiệu cho sự sụp đổ của vương triều.

- Sự nhũng nhiễu của đám quan lại dưới quyền

+Sự ăn chơi, hưởng lạc, thú vui của vua chúa đưa đến một đám những kẻ nịnh bợ, nhũng nhiễu dân chúng.

+Mượn cớ "phụng thủ", bày trò cướp trắng trợn những "chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay" trong dân gian.

+Bày trò dọa nạy, "nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm"

+Sai tay chân cướp cây cảnh, hoặc phá tường nhà người ta mang đi, hoặc sai người "cắt phăng" để dàn cảnh đòi tiền.

→ Tìm các loại báu vật dâng chúa nhưng thực chất là vơ vét của dân làm của riêng.

+Tác giả kể câu chuyện của nhà mình (cây lê cao vài mươi trượng, nở hoa trắng xóa thơm lừng, hai cây lựu trắng đỏ) phải chặt đi vì sự bọn quan lại nhũng nhiễu.

→ Bộc lộ kín đáo sự phê bình, phê phán của tác giả với thói ăn chơi của vua chúa. Đồng thời cảm thông với những người dân trong xã hội.

3. Kết bài

+Nghệ thuật: Lối ghi chép chân thực, cụ thể, sống động.

+Miêu tả chân thực cuộc sống xa hoa của vua chúa và thói nhũng loạn của quan lại

+Bộc lộ kín đáo cảm xúc của mình.

+Đoạn trích mang giá trị nghệ thuật, hiện thực sâu sắc.

Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - mẫu 1

Nhắc tới Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), người đờ nhớ tới tác phẩm ‘Vũ trung tùy bút’ của ông. Một bút pháp nghệ thuật tinh tế, tài hoà, một phong thái thư nhàn cao nhã, ông tiêu biểu cho cốt cách kẻ sĩ Bắc Hà cuối then Lê – Trịnh và thời kì đầu nhà Nguyễn.

‘Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh’ là một trang tùy bút đặc sắc, rút trong ‘Vũ trung tùy bút’ của Phạm Đình Hổ. Tùy hứng mà viết, tùy bút mà viết, cảm hứng dào dạt, dâng trào. Cảnh ăn chen xa hoà của Chúa Trịnh Sâm, cảnh bán hàng của bọn nội thần nội thị, cảnh tấu nhạc của bọn nhạc công cung đình tại chùa Trấn Quốc nơi Hồ Tây giữa thế kỉ xvIII, sự nhũng nhiễu của bọn hoạn quan khắp chốn dân gian… đã được tác giả ‘Vũ trung tùy hút’ chấm phá qua một vài nét, thế mà ta chỉ đọc qua một lần là có thể nhớ mãi.

‘Chuyện cũ…’ đã xảy ra vào 2 năm Giáp Ngọ – Ất Mùi (1774 – 1775), đó là lúc Đàng Ngoài ‘vô sự', là những năm tháng hoàng kim của Thịnh Vương (Trịnh Sâm); khi mà người ngọc Đặng Thi Huệ được Chúa sủng ái trở thành nguyên phi. Trịnh Sâm sống trong xa hoà: ‘thích đi chơi ngắm cảnh đẹp, thường ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tủ Trầm, núi Dũng Thúy. Chúa ra chơi cung Thụy Liên trên hờ Tây Hồ mỏi tháng ba bốn lấn’.

Cảnh đón tiếp với các thứ nghi lễ thật tưng bừng độc đáo. Có ‘binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ’. Có tổ chức hội chợ, do quan nội thần cải trang ‘đẩu hit khán, mặc áo dàn hà, bày hách hóa chung quanh hồ để hán’. Thuyên ngự đi tới đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ… Gác chuông chùa Trấn Quốc trở thành nơi hòa nhạc của bọn nhạc công Cung đình.

Đình đài, cung điện được xây dựng ‘liên tục’ nhằm thỏa mãn cuộc sống ăn chơi của vua chúa và bọn quan lại thời Lê – Trịnh. Bao nhiêu tiền của, vàng bạc, châu báu, nước mắt mồ hồi của nhân dân bị bòn vét đến kiệt cùng. Phạm Đình Hổ đã được mắt thấy tai nghe những ‘chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh’ nên cách kể, cách tả của ông rất sống.

Để được sống trong xa hoa, hưởng lạc cuộc đời vàng son đế vương, từ chúa đến quan đều trở thành bọn cướp ngày ra sức hoành hành, trấn lột khắp chốn cùng quê. Chúa thì ‘sức thu lấy’ trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoà cây cảnh ờ chốn dân gian ‘không thiếu một thứ gì’.

Có những cây cảnh ‘cành lá rườm rà… như cây cổ thụ mục trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng’ phải dùng đến một cơ binh mới khiêng nổi, từ bên Bắc chở qua sông đem về. Trong phủ chúa ‘điểm xuyết’ bao núi non bộ trông lạ mắt như ‘bốn bể đầu non’. Vượn ngự uyển, trong những đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bể, hoặc nửa đêm ‘ồn ào như trận mưa sa, gió táp, vỡ tổ tan đàn’. Nếu như trong 'Thượng kinh kí sự’ Lê Hữu Trác ngạc nhiên viết:

‘Hoà cung thoảng ngạt ngào đưa tới,

Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen.

Quê mùa cung cấm chưa quen,

Khác gì ngư phù đào nguyên thuở nào’.

thì ở đây, Phạm Đình Hổ ái ngại nghĩ: ‘kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường’. Cuộc sống cực kì xa hoà ấy là nguyên nhân cho sự sụp đổ ngai vàng ngày một ngày hai sẽ xảy ra. Đó là năm 1782, Trịnh Sâm qua đời; loạn kiêu binh bùng nổ, kinh thành Thăng Long bị đốt phá tan hoang; năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà lần thứ nhất, cơ nghiệp họ Trịnh tan tành trong nháy mắt! ‘Cái triệu bất thường’ mà Phạm Đình Hổ nghĩ tới thật linh nghiệm. Quy luật cuộc đời vô cùng sòng phẳng, cay nghiệt:

'Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mổ nấm chung quanh.

Nghìn vàng khôn dổi được mình Lẩu ca viện hát, tan tành còn đâu ?’

(‘Văn chiêu hồn’ – Nguyễn Du)

Bọn hoạn quan trong phủ Chúa vừa trắng trợn vừa xảo quyệt, như dân gian đã khinh bỉ chửi vào mặt: ‘Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan’. Chúng dùng thủ đoạn ‘nhờ gió bẻ’ măng, ra ngoài dọa dẫm’. Chi bằng hai chữ ‘phụng thủ’ biên ngay vào chậu hoà cây cảnh, chim tốt khiếu hay của bất cứ nhà nào là chúng cướp được. Chúng còn lập mưu ‘đém đến’ cho tay chân sai lính lẻn vào ‘lấy phăng di, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa dẫm lấy tiền’.

Chúng ngang ngược ‘phá nhà hủy tường’ của dân để khiêng hòn đá hoặc cây cối gì mà chúng cướp được ! Đối với nhà giàu thì chúng lập mưu vu cho là ‘giấu vật cung phụng’ để hành hạ, để làm tiền, nhiều người phải ‘bỏ cùa ra kêu van chí chết’, có gia đình ‘phải dập bỏ núi non bộ, hoặc phá bò cây cành để tránh khỏi tai vạ’.

Gia đình tác giả thuộc hàng quan lại, quý tộc thời Lê – Trịnh. Trước sự nhũng nhiễu hoành hành, mẹ Phạm Đình Hổ là bà Cung Nhân phải sai người nhà chặt cây lê ‘cao vài mươi trượng, lúc nỏ hoà, trắng xóa thơm lừng’, hai cây lựu trắng, lựu đỏ ‘lúc ra quả trông rất đẹp’. Chi tiết này, tình tiết này rất sống, rất thực. Tác giả đã kể lại một chuyện có thật của gia đình mình ở phường Hà Khẩu để vừa tạo nên niềm tin cho người đọc mai hậu, vừa phê phán bộ mặt tham lam, ghê tởm của bọn quan lại thời Lê – Trịnh, vạch trần sự thối tha trong phủ Chúa.

Trang tùy bút ‘Chuyện cũ trong phù Chúa Trịnh’ của Phạm Đình Hổ có giá trị lịch sử sâu sắc, nó đã làm hiện lên cảnh vật và con người, cuộc sống xa hoà ăn chơi của vua chúa, hành động ăn cướp, làm tiền trắng trợn của bọn quan lại trong phủ Chúa.

Ngòi bút của Phạm Đình Hổ rất trầm tĩnh và sâu sắc. Mọi cảm xúc, ý nghĩ của ông về nhân tình thế sự được gửi gắm qua những chi tiết, tình tiết, mẩu chuyện rất sống, rất chọn lọc, đậm đà, nhã thú.

Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - mẫu 2

Phạm Đình Hổ là người người làng Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay là xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông là một con người có tài, từng làm quan dưới thời vua Minh Mạng. Phạm Đình Hổ đã có rất nhiều những công trình biên soạn, khảo cứu có giá trị thuộc đủ các lĩnh vực: văn học, triết học, lịch sử, địa lí…Trong số những tác phẩm của ông, tiêu biểu nhất có thể kể đến đó chính là “Vũ Trung tùy bút”, trong đó có đoạn trích Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh.

Vũ Trung tùy bút hay còn được hiểu với nghĩa nôm na là tùy bút biết trong những ngày mưa, đây là một tác phẩm đặc sắc của Phạm Đình Hổ, viết vào đầu đời Nguyễn, tức đầu thế kỉ XIX. Tác phẩm gồm có 88 mẩu chuyện nhỏ, viết theo thể tùy bút, trong những mẩu chuyện đó, Phạm Đình Hổ đã bàn về những điều mắt thấy tai nghe, những lễ nghi, phong tục tập quán…ghi chép những việc xảy ra trong xã hội lúc đó.

Tất cả những nội dung đó được tác giả trình bày một cách giản dị, sinh động và hấp dẫn. Bởi vậy mà những tác phẩm của Phạm Đình Hổ chẳng những có giá văn chương đặc sắc mà còn cung cấp những tài liệu quý về sử học, địa lí, xã hội học.

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là bài tùy bút mà tác giả Phạm Đình Hổ viết về những điều mà nhà văn chứng kiến trong phủ chúa, đó là những điều mắt thấy tai nghe nên bài tùy bút không chỉ đặc sắc, sinh động mà còn mang tính xác thực, tính tố cáo cao. Mở đầu của bài tùy bút, tác giả Phạm Đình Hổ đã ghi chép lại chính xác thời gian của những sự kiện trong bài tùy bút, đó chính là khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774-1775).

Trong khoảng thời gian này, trong nước tuy yên bình, nhân dân yên ổn làm ăn nhưng chúa Trịnh Sâm sau khi lên ngôi thì lâm vào cảnh ăn chơi xa đọa, ham những thú vui lạc thú, không lo việc trị nước mà dùng quyền lực để bắt nhân dân xây dựng cho mình những đền đài, phục vụ cho mục đích ăn chơi, hưởng lạc đồi trụy “ Thịnh Vương (Trịnh Sâm) thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên. Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên trên Tây Hồ, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần đều bịt kín khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh hồ để bán”.

Vậy là ta có thể thấy việc ăn chơi hưởng lạc của chúa Trịnh Sâm không chỉ hoang phí, tốn kém, tiêu hao ngân sách triều đình mà còn làm cho cuộc sống của người dân thêm phần lầm than, đau khổ vì đủ thứ sưu cao, thuế nặng. Không những vậy, những người nông dân còn bị bắt đi lính khổ sai, xây dựng lên những công trình nguy nga tráng lệ, vô cùng tốn kém để phục vụ cho thú vui của chúa.

Trong triều đại của chúa Trịnh Sâm, sự thối nát tiêu cực bộc lộ ra từ người đứng đầu là vua Trịnh Sâm đến những người hiền thần được xem là trụ cột của quốc gia.Trước sự ăn chơi xa hoa thì những người hiền thần này không những không can ngăn chúa mà còn hùa theo những trò tiêu khiển của chúa một cách quái đản, họ mặc trang phục của nữ giới và bày bán những thú đồ hang bên bờ hồ. Qua cách miêu tả của tác giả Phạm Đình Hổ ta thấy được sự lố lăng kệch cỡm của những con người tự xưng là bậc phụ mẫu của nhân dân.

Điều mà chúa Trịnh Sâm làm được cho dân không phải cuộc sống ấm no, cuộc sống thái bình mà là những đau khổ, lầm than không sao kể xiết. Cuộc du ngoạn của chúa cũng thật lố lăng đến mức nực cười, thuyền ngự đến đâu thì quan hỗ tụng đại thần lại có thể tùy ý ghé vào mua bán các thứ như cửa hang trong chợ.

Đỉnh điểm của những trò lố lăng, kệch cỡm đó chính là những nơi thiêng liêng như chùa Trấn Quốc cũng bị mang ra làm thú vui tiêu khiển cho bọn vua chúa vô năng “ Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc”.

Chúa Trịnh Sâm khi mới lên ngôi vốn là một con người có trí tuệ, thông minh quyết đoán nhưng sau khi giành được vương vị thì bỗng thành ra đổ đốn, ăn chơi hưởng lạc và trở thành một vị chúa điển hình cho những thói hưởng lạc kệch cỡm, xa hoa bậc nhất lịch sử triều đại phong kiến Việt Nam. Sau khi dẹp được các bè phái đối lập, Trịnh Sâm kiêu căng sa đọa vào những thú vui xa xỉ. Chúa Trịnh Sâm say mê Đặng Thị Huệ, phế con trưởng lập con thứ gây nên bao nhiêu cảnh bạo ngược.

Không chỉ đắm chìm trong tửu sắc, cuộc sống xa hoa trụy lạc mà chúa Trịnh Sâm cũng say mê những trân cầm dị thú ttrong dân gian, để có được những thứ mình thích, chúa đã dung quyền lực để thu về hết, không cần quan tâm đó là của ai và giành lấy bằng cách cướp đoạt trắng trợn.

Từ những thứ nhỏ gọn như cổ mộc quái thạch đến những thứ to lớn, rườm rà chúa đều sai người lấy về bằng hết: “ bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về…”

Đối ngược với cuộc sống lầm than chốn dân gian, nơi phủ chúa lại vô cùng xa hoa tráng lệ, trong phủ được trưng bày đủ những thứ quý giá, đẹp đẽ trong dân gian “Trong phủ, tùy chỗ điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non”. Không chỉ viết về cuộc sống của chúa Trịnh Sâm mà tác giả Phạm Đình Hổ còn nói đến cuộc sống đầy bất an của dân chúng khi thói trộm cướp, cường quyền hoành hành khắp nơi.

Bọn quan lại cậy quyền mà dò xét những thứ quý giá trong dân gian, một khi đã lọt vào mắt xanh của chúng thì chúng sẽ bày ra việc “phụng thủ” ý chỉ của chúa để thu gom cho bằng hết, cuộc sống của người dân luôn trong tình trạng nơm nớp lo sợ, cảnh giác khi về khuya “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồm ào trận mưa sa gió táp, kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường. Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, mang ra ngoài dọa dẫm…”.

Tác giả còn nói về hoàn cảnh trớ trêu, hài hước của chính mình, nhà tác giả có cây lê đẹp và thơm, cây lựu trắng đỏ đẹp mắt cũng bị những người cung nhân sai chặt đi “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê….hai cây lựu trắng đỏ…bà cung nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ đó”.

Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - mẫu 3

Trong các áng văn xuôi thời kì trung đại ở nước ta, bên cạnh Truyền kì mạn lục - một "Thiên cổ kì bút" - người đời thường nhắc tới Vũ trung tùy bút (Theo ngọn bút viết trong khi mưa) của Phạm Đình Hổ. Tác phẩm ra đời vào đầu thế kỉ XIX. Khác với Truyền kì mạn lục, tập sách "viết trong mưa" ấy thuộc thể loại tùy bút. Dùng văn tuỳ bút, danh nho Phạm Đình Hổ đã tùy theo hứng thú và suy nghĩ của riêng mình, ghi chép lại những sự việc, những câu chuyện cụ thể chân thực, những điều tai nghe, mắt thấy trong cuộc sống.

Khi đọc Truyền kì mạn lục, chúng ta bắt gặp đây đó những yếu tố lãng mạn, huyền ảo, còn trong Vũ trung tùy bút thì đậm đặc chất hiện thực. Một trong những bức tranh hiện thực ấy là những chuyện trong phủ chúa Trịnh Sâm. Viết lại những câu chuyện cũ ấy, tác giả dự báo "đó là triệu bất tường", là những dấu hiệu không lành, những điềm gở.

Trước hết là những câu chuyện về thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh Sâm và các quan lại hầu cận trong phủ chúa. Tác giả Phạm Đình Hổ kể ba sự việc tiêu biểu. Việc thứ nhất: Chúa cho xây dựng nhiều cung điện, đình đài ở các nơi để thoả mãn ý thích "đi chơi ngắm cảnh đẹp", ý thích đó cứ triền miên, nối tiếp tưởng đến không cùng. Vì vậy, nhà văn viết "Việc xây dựng đình đài cứ liên miên".

Nghĩa là việc huy động sức dân, thu tiền bạc, chiếm đất đai, bắt nhân công liên tục diễn ra hàng tháng, hàng năm, nơi này, nơi khác. Việc thứ hai: Những cuộc rong chơi của chúa Thịnh Vương (Trịnh Sâm). Chúa thường thích đi chơi, thường ngự - tới ăn ngủ, ngắm cảnh đẹp, hưởng của ngon, vật lạ, thoả mãn thú vui cả thể xác lẫn tinh thần - ở các li cung (cung điện, lâu đài xa kinh thành) trên Hồ Tây, núi Tử Trầm, núi Dũng Thuý.

Trong những chuyến du lịch ấy của chúa đặc biệt nhất là cuộc dạo chơi trên Hồ Tây. Vòng quanh bốn mặt hồ, binh lính phải "dàn hầu", vừa để bảo vệ vừa sẵn sàng làm theo lời chúa sai bảo. Cũng vòng quanh bốn mặt hồ, các quan trong triều phải "đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà" cải trang là những thị dân buôn bán, bày hàng hoá như một khu chợ sầm uất, đông vui, vui cho thiên hạ thì ít mà vui cho chúa thì nhiều.

Thuyền ngự đến đâu thì chúa và các hỗ tụng đại thần tuỳ ý ghé vào bờ mua bán. Chúa và cận thần tới, thì nhạc công phải tấu lên những khúc nhạc dặt dìu gần xa vẳng từ dưới bóng cây, bến đá nào đó. Đúng là bức tranh cuộc sống phồn hoa mà giả dối. Tác giả chỉ ghi chép khách quan, không một lời nhận xét, mà sự việc nó cứ tự phơi bày những nét rởm hợm, nực cười, đáng chê trách.

Việc thứ ba - đáng chê trách hơn - là câu chuyện chúa "sức thu lấy" - ra lệnh bằng văn bản - cướp đoạt một cách trắng trợn tất cả "những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh" trong nhân dân. Chọn một cảnh điển hình của những cuộc cướp đoạt ấy - cảnh lính tráng chở một cây đa cổ thụ về phủ chúa - tác giả miêu tả bằng những từ ngữ sống động, một giọng văn thật nặng nề. Cây đa to, cành lá rườm rà, được rước qua sông"... như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại bốn người đi kèm, đều cầm gươm đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay".

Đó là một đám rước công phu, tốn kém. Cây đa ấy vốn ở đầu non hốc đá tự do - phóng khoáng giữa rừng núi nay bị rước về vườn nhà chúa bề ngoài có vẻ oai phong, song nhìn kĩ thấy tội nghiệp quá. Bởi vì từ nay, đa đâu còn là biểu tượng trường tồn, bất diệt, biểu tượng cho sức sống của con người, của quê hương, đất nước. Đa đã bị ép buộc để "điểm xuyết, bày vẽ" thành thứ đồ chơi riêng của nhà chúa. Cây đa cũng giống như thân phận của muôn loài trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch, chậu hoa cây cảnh trong dân gian đã bị cầm tù, bị tha hoá.

Bao nhiêu cái đẹp của tự nhiên, những thú vui tao nhã, chính đáng của nhân dân đã bị nhà chúa chiếm đoạt. Số phận của cây trời, đá núi, hoa lá,... vô tri thì như thế, hỏi số phận con người ra sao? Người viết tuỳ bút, danh nho Phạm Đình Hổ đã đưa ra những sự việc cụ thể chân thực và khách quan, không bình luận mà các hình ảnh, chi tiết cứ hiện lên đầy ấn tượng. Ấn tượng nhất là cảnh đêm nơi vườn nhà chúa: "Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường"...

Tiếng chim kêu, vượn hót khắp bốn bề giữa đêm khuya thanh vắng, hay là tiếng muôn loài than thở? Trận mưa sa gió táp ồn ào hay sự giận dữ của trời đất? Những âm thanh ấy gợi cảm giác ghê rợn như một điều gì đó đang tan tác đổ vỡ, suy sụp đau đớn, chứ không phải là một cảnh đẹp bình yên, phồn thực, no ấm. Nghe những âm thanh ấy "kẻ thức giả" - nhà nho Phạm Đình Hổ biết "đó là triệu bất tường".

Đến dòng văn cuối của những câu chuyện nhà chúa, cảm nghĩ của tác giả bộc lộ trực tiếp, nhưng lời văn vẫn nhẹ nhàng, tế nhị, gián tiếp bằng một danh từ chung là "kẻ thức giả". Kẻ thức giả là những người có học vấn, có hiểu biết sâu rộng. Viết câu văn ấy, Phạm Đình Hổ là một người có tầm phán đoán, dự cảm chính xác.

Ông đã thấy rõ những cuộc ăn chơi xa hoa, vô độ của chúa Trịnh Sâm là "triệu bất tường", những dấu hiệu không lành, những điềm gở. Nó báo trước sự suy vong tất yếu của một triều đại chỉ chăm lo việc ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của dân lành. Quả thực, điều đó đã xảy ra không lâu sau khi Trịnh Sâm mất.

Sách xưa có câu "Thượng bất chính, hạ tắc loạn" - cấp trên không chân chính, nghiêm túc thì cấp dưới tất sẽ làm loạn. Chúa ở ngôi cao mải mê ăn chơi, sa đoạ, tất yếu các quan cấp dưới ỷ thế làm càn. Do đó, từ những câu chuyện của chúa, Phạm Đình Hổ chuyển ý, kể đến chuyện các quan "bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài doạ dẫm...". Ở đoạn văn thứ hai này, tác giả tập trung kể một sự việc.

Đó là việc bọn hoạn quan bày trò cướp đoạt, vu cáo, phá hoại tài sản của nhân dân một cách trắng trợn, tàn ác. Chúng thực hiện công việc rất "bài bản". Động tác một: "Dò xem" nhà nào có vật quý, thì biên vào hai chữ "phụng thủ" nghĩa là lấy để dâng chúa. Động tác thứ hai: "Trèo qua tường thành lẻn ra"... "lấy phăng đi"... Động tác thứ ba: Nếu nhà nào phản ứng, thì "buộc cho tội giấu vật báu" của vua chúa...

Ở đoạn văn tuỳ bút này nhà văn sử dụng liên tục các động từ miêu tả thái độ và hành động bọn hoạn quan trong ba câu văn đặc tả với những từ ngữ nhấn mạnh: "Dò xem", "trèo", "lẻn", "lấy phăng", "buộc tội", "doạ dẫm", ... Đúng là những thái độ, hành động của một lũ đầu trâu mặt ngựa, vừa ăn cướp, vừa la làng, "Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham" (Truyện Kiều). Hậu quả của những vụ cướp bóc trắng trợn ấy là: Người dân bị buộc tội phải nộp tiền, phải "phá nhà huỷ tường... bỏ của ra kêu van chí chết" và tự mình phải "đập bỏ núi non bộ hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ".

Người dân phải chịu biết bao nhiêu cảnh đau đớn, bao nhiêu bất công, phi lí. Chính tại gia đình Phạm Đình Hổ - một gia đình quý tộc cận kề phủ chúa - cũng bị cái họa ăn cướp kia gieo xuống. Trước nhà tiền đường trồng một cây lê hoa trắng xoá thơm lừng, trước nhà trung đường trồng hai cây lựu ra quả trông rất đẹp ... "Bà cung nhân ta đều sai chặt đi cũng là vì cớ ấy".

So với giọng văn kể chuyện các gia đình khác quanh kinh thành bị quấy nhiễu, giọng kể ở đoạn văn cuối này có vẻ như nhẹ nhàng hơn, song nó tô đậm thêm tính hiện thực, tăng thêm ý nghĩa phê phán, tố cáo. Bởi vì, nạn cướp bóc, sách nhiễu ở thời Trịnh Sâm đã trở thành cơn sốc trong xã hội, không chỉ gây đau khổ cho dân thường mà còn đe do cả những gia đình quyền quý, quan lại, không chỉ cướp bóc của cải vật chất mà còn hủy diệt cả những thú vui tao nhã mang tính văn hóa truyền thống của biết bao gia đình Việt Nam chúng ta.

Những từ ngữ cuối đoạn văn dừng lại, nhưng lời kể của tác giả vẫn còn vương vấn ngân nga trong lòng chúng ta những cảm giác xót xa, nuối tiếc, thương cho cây đẹp, hoa thơm, cảm thông với những con người phải sống trong một xã hội phong kiến hỗn loạn mục nát đến như vậy.

Đoạn tuỳ bút Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh ấy không chỉ có giá trị hiện thực, phơi bày bộ mặt xấu xa của chúa, của bọn quan lại, lính tráng mà còn hấp dẫn bạn đọc bởi một ngòi bút tài hoa. Phạm Đình Hổ đã ghi chép người thực, việc thực rất cụ thể, chính xác, theo trí nhớ, cảm xúc, suy nghĩ của riêng mình.

Từ ngữ câu văn tự nhiên, trôi chảy, không bị gò bó bởi cốt truyện, nhân vật...như trong truyện ngắn. Khi kể chuyện, lúc chuyển sang miêu tả, ngẫu hứng thì điểm vào một dự cảm, dự báo, nhịp văn lúc khoan thai, khi dồn dập nhấn mạnh,... ngỡ như buông thả tự do nhưng tác phẩm vẫn tập trung vào một chủ đề, toát lên cảm xúc trữ tình rõ nét của tác giả.

Nói tóm lại, bằng thể văn tuỳ bút ghi chép tuỳ hứng những sự việc một cách cụ thể, chân thực, sinh động, Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh giúp chúng ta hiểu về đời sống xa hoa vô độ của bọn vua chúa, quan lại phong kiến thời vua Lê, chúa Trịnh suy tàn nửa cuối thế kỉ XVIII. Đó là một xã hội đầy rẫy những dấu hiệu không lành, những điềm gở đáng chê trách và đáng xoá bỏ. Lịch sử đã xoá bỏ cái xã hội ấy.

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 9 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Giới thiệu kênh Youtube hoconline


chuyen-cu-trong-phu-chua-trinh.jsp