Top 5 bài Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi-mông hay nhất



Đề bài: Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi mông

Bài giảng: Bố của Xi Mông - Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên hoconline)

Dàn ý Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi mông

1. Mở bài

- Vài nét về tác giả G. Mô- pa- xăng: Một nhà văn Pháp tài năng với gia tài văn chương đồ sộ

- Khái quát về đoạn trích Bố của Xi-mông: Đoạn trích là một phần của truyện ngắn Bố của Xi- mông, khắc họa thành công nét đẹp của các nhân vật Xi-mông

2. Thân bài

- Là một đứa trẻ đáng thương: "Nó độ bảy, tám tuổi. Nó hơi xanh xao, rất sạch sẽ, vẻ nhút nhát gần như vụng dại", là đứa trẻ không có bố, thường bị bạn bè trêu chọc

- Ý nghĩa và hành động: Bỏ nhà ra bờ sông định tự tử.

- Tâm trạng: cảm giác uể oải, buồn bã vô cùng, chẳng nhìn thấy gì và chẳng nghĩ gì?

- Cử chỉ, hành động: Khóc, nức nở, khóc hoài

- Về nhà, nhìn thấy mẹ: - Nhảy lên ôm cổ mẹ, oà khóc

- Nói năng: ấp úng, ngắt quãng, không nên lời.

- Khi được bác Phi-líp nhận làm con: Kiêu hãnh, tự tin

+ Hết cả buồn.

+ Đưa con mắt thách thức lũ bạn.

⇒ Nghệ thuật miêu tả, so sánh ⇒ Đây là một đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên, đáng yêu và đáng thương nhưng đồng thời Xi – mông cũng là đứa rất có nghị lực

3. Kết bài

- Khẳng định lại những nét tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích: Nghệ thuật: miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật sắc nét.

- Nội dung: Nhắc nhở lòng thương yêu con người, bè bạn.

Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi mông - mẫu 1

“Bố của Xi-mông” là một trong những tác phẩm nổi bật của nhà văn người Pháp Mô-pa-xăng. Tác phẩm xoay quanh Xi-mông một đứa trẻ tội nghiệp không cha, em phải hứng chịu biết bao xấu hổ tủi nhục vì điều ấy và cuối cùng em cũng đã tìm được cho mình một người cha. Tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân văn cao cả, giàu lòng yêu thương con người.

Xi-mông là con của chị Blăng-sốt, chị bị một người đàn ông lừa dối nên đã sinh ra Xi-mông, em trở thành đứa trẻ không cha trong mắt mọi người, em sống thiếu thốn tình thương, chỉ có sự chăm sóc của mẹ. Nhưng hoàn cảnh đáng thương của em lại không được thông cảm, người lớn coi là đứa con hoang, ngoài giá thú; còn lũ trẻ không hiểu biết nói những lời ác ý, chúng không chia sẻ mà thường xuyên bắt nạt, hành hạ em, khiến Xi-mông cảm thấy chán nản, nhiều lần khóc lóc và muốn tìm đến cái chết. Điều đó làm cậu bé hết sức khổ tâm, và cao trào của sự việc là Xi-mông muốn tìm đến cái chết nếu em không tìm được người cha của mình. Xi-mông là đứa trẻ hết sức đáng thương, cần được sự quan tâm, chia sẻ từ những người xung quanh.

Trên bời sông, Xi-mông đau khổ đến tột cùng, tuyệt vọng và định tìm đến cái chết để giải thoát chính mình. Trước khung cảnh đẹp đẽ “trời ấm áp vô cùng, dễ chịu vô cùng. Ánh mặt trời êm đềm sưởi ấm bãi cỏ…” đã làm em quên đi những đau khổ mà mình phải chịu đựng. Rồi em chợt nhớ về mẹ, em lại khóc nức nở. Tác giả đã miểu tả hết sức khéo léo, tài tình tâm trạng trẻ thơ. Chúng có thể vì khung cảnh rực rỡ, nhưng thú vui nhất thời mà quên đi nỗi đau của mình, nhưng ẩn sâu bên trong nỗi đau ấy vẫn gặm nhấm và bùng phát bất cứ lúc nào. Qua đó ta thấy được tâm trạng đau khổ, tình cảnh đáng thương của cậu bé Xi-mông.

Khi gặp được bác Phi-lip ở bờ sông, nhận được sự hỏi han, quan tâm Xi-mông lại khóc nấc lên: “Chúng nó đánh cháu … vì… cháu … cháu … không có bố … không có bố”, cách miêu tả thật tinh tế với những dấu chấm lửng ngắt quãng đã cho thấy tâm trạng nghẹn ngào, đau đớn, tủi hổ của cậu bé Xi-mông. Xi-mông trở về nhà, một lần nữa nỗi uất ức ấy lại trào dâng, em òa khóc và nhắc lại ý định tự tử. Nhưng trong em vẫn còn là một đứa trẻ hồn nhiên. Sự hồn nhiên đó được thể hiện qua câu nói rất ngây thơ, hồn nhiên: “Bác có muốn làm bố cháu không?” câu hỏi cất lên làm cả mẹ của Xi-mông và bác Phi-lip đều cảm thấy ngượng ngùng, đặc biệt chị Blăng-sốt như chết lặng đi, “hổ thẹn, lặng ngắt và quằn quại, dựa vào tường, hai tay ôm ngực”. Chỉ có = Xi-mông là vui vẻ, hào hứng và tràn ngập mong muốn có một người bố cho riêng mình. Đối với bác Phi-lip đó chỉ như một câu chuyện đùa, bác vui vẻ bế bổng Xi-mông lên và khẳng định: “Có chứ, bác muốn chứ”. Cậu bé hoàn toàn tin tưởng vào những lời bác Phi-lip nói và cũng từ sau giây phút ấy em can đảm, tự tin lên rất nhiều.

Xi-mông hạnh phúc, hãnh diện khi đã có bố, bởi vậy hôm sau khi đến trường bị các bạn tiếp tục trêu chọc cậu bé đã dũng cảm quát vào mặt chúng: “Bố tao ấy à, bố tao tên là Phi-lip”, em vô cung hãnh diện, tự hào trước những kẻ luôn đi hành hạ, sỉ nhục em. Trước những lời bỡn cợt, em không nói gì nữa mà chỉ im lặng, bởi em tin lời hứa bác Phi-lip đã nói với mình. Có bố đã mang lại cho em niềm vui, sức mạnh để sống hạnh phúc và học tập tốt.

Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí trẻ em tài tình, ngôn ngữ đa dạng phù hợp với lửa tuổi nhà văn Mô-pa-xưng đã thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả. Tác phẩm là bài ca ca ngợi tình yêu thương giữa con người với con người. Đồng thời cũng là tiếng nói cảm thông cho những số phận bất hạnh, cho những nỗi đau và lầm lỡ của người khác.

Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi mông - mẫu 2

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết:

Thêm một người trái đất sẽ chật hơn

Nhưng thiếu mẹ thế giới đầy nước mắt"

Vượt qua khuôn khổ trật hẹp của câu chữ, câu thơ trên đề cao vai trò, ý nghĩa lớn lao của bậc sinh thành đối với con cái. Thật hạnh phúc biết bao với những ai sinh ra và lớn lên luôn có cha, có mẹ bên cạnh. Nhưng cũng thật bất hạnh biết bao khi ai đó sinh ra trên đời đã thiếu vắng tình cảm của mẹ cha. Nhà văn Guy đơ Mô – pa – xăng lên mười tuổi đã phải chịu cảnh cha mẹ ly thân, lớn lên trong sự thiếu vắng tình cảm của người cha đã thấu hiểu tất cả nỗi đau bất hạnh ấy. Vì thế, bằng trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ, Mô – pa – băng đã truyền tải nỗi đau đó qua câu chuyện "Bố của Xi – mông". Khép lại câu chuyện, hình ảnh cậu bé Xi – mông cứ hiện lên trong tâm trí, gây ám ảnh, day dứt trong lòng người đọc về tình yêu thương, sự đồng cảm, sẻ chia đối với cậu bé bất hạnh qua câu nói: "con không có bố"!.

Câu chuyện xoay quanh tình cảnh đáng thương của cậu bé Xi – mông, sinh ra đã không biết mặt mũi cha mình là ai và luôn sống trong sự ghẻ lạnh, dè bỉu của mọi người xung quanh. Mẹ của cậu bé là Blăng – sốt. Trước đây chị là một cô gái đẹp nhất vùng, chỉ vì gặp phải sự dối lừa của một người đàn ông bội bạc mà chị đã để vụt mất tuổi thanh xuân và sinh ra Xi – mông. Hai mẹ con sống nương tựa vào nhau trong "một ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch sẽ". Tuổi thơ của Xi – mông thấm đẫm nước mắt tủi hờn. Mặc dù, cậu được mẹ chăm sóc, yêu thương rất tận tình, chu đáo nhưng cũng không thể bù đắp hết được sự trống trải, cô đơn và nỗi đau khổ của một cậu bé thiếu vắng tình cảm của người cha. Vì thế, cậu tha thiết và nguyện cầu có một người cha bên cạnh. Nhưng với em, điều đó thật khó khăn và không tưởng.

Do phải sống trong nghèo đói, Xi mông lên tám tuổi mới được cắp sách tới trường. Ngỡ tưởng rằng, đến trường, em sẽ được hòa mình với chúng bạn trên trang sách tuổi thơ nhưng không, ngay ngày đầu tiên đi học, Xi – mông đã bị bạn bè đem ra trêu chọc nhục mạ và thậm chí là bị đánh đập chỉ vì em sinh ra đã là đứa trẻ không cha. Với ngoại hình xanh xao, tính cách nhút nhát," gần như vụng dại", cậu bé không biết và cũng không thể phản kháng lại được trước những đứa trẻ hư, nghịch gợm và thiếu tình yêu thương, sự đồng cảm đó. Xi – mông chỉ biết khóc, khóc và khóc. Chi tiết giọt nước mắt thể hiện nỗi đau đớn, tủi hờn của Xi – mông đã được nhà văn miêu tả rất nhiều lần: "cảm giác uể oải thường thấy sau khi khóc", "và thấy buồn vô cùng, em lại khóc. Người em rung lên", "những cơn nức nở lại kéo đến", em "chẳng nhìn thấy gì quanh em nữa và em chỉ khóc hoài", "em trả lời, mắt đẫm lệ, giọng ngẹn ngào, "ôm lấy cổ mẹ, lại òa khóc"... Việc tô đậm tiếng khóc của nhân vật, một mặt vừa diễn tả được tấn bi kịch tinh thần của cậu bé khi không có cha; mặt khác cho thấy được tấm lòng đồng cảm, xót thương nhân vật của nhà văn Mô – pa – băng.

Suy nghĩ tiêu cực, cậu đã không thể vượt thoát ra khỏi những định kiến và cái nhìn khinh ghét của mọi người, Xi – mông đã bỏ ra bờ sông, định tự tử để giải thoát nỗi đau đớn này. Nhưng nhờ vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên, nỗi đau khổ trong em đã vơi bớt đi phần nào. Và rồi, dường như vẻ đẹp của thiên nhiên cũng không thể nào xóa hết trong lòng em những day dứt, đau đớn bấy lâu nay ở trong lòng. Em lại nghĩ đến nhà, rồi nghĩ đến mẹ, và thấy buồn vô cùng, em lại khóc. Hiện thực đắng chát ở trong lòng cứ xoáy sâu vào trong em, nỗi tuyệt vọng ngày một lớn dần đều. "Em quỳ xuống và đọc kinh cầu nguyện....nhưng em không đọc hết được, vì những cơn nức nở lại kéo đến, dồn dập, xốn xang choán lấy em". Cuối cùng, dường như chúa trời đã thấu hiểu lời nguyện ước của em, một tình huống bất ngờ xảy đến, Xi – mông đã gặp cha. Đó là chú thợ rèn Phi - líp "cao lớn, râu tóc đen quăn... nhân hậu" đã lau khô nước mắt của cuộc đời em. Chú Phi – líp như một ông tiên có phép lạ, chỉ một câu nói giản đơn: "Thôi nào, đừng buồn nữa, về nhà mẹ cháu với bác đi. Người ta sẽ cho cháu... một ông bố" đã xoa dịu nỗi đau buồn cô đơn trong lòng Xi – mông. Và rồi, hai bác cháu lên đường trở về nhà.

Cuối đoạn trích, nhà văn đã khắc họa cảnh tượng Xi – mông nhận bác Phi – líp làm cha thật xúc động lòng người. Lời hỏi ngây thơ mà em hỏi bác thợ rèn: "Bác có muốn làm bố cháu không?" đã thể hiện niềm mong mỏi cháy bỏng đến không cùng của một cậu bé mồ côi cha. Và sau khi được bác thợ rèn nhấc bổng lên rồi hôn vào hai má và nói "Có chứ, bác có muốn" thì tâm hồn trong trẻo, non nớt của em đã hồi sinh trở lại. "Xi – mông im lặng một giây, để ghi nhớ cái tên ấy trong óc, rồi hết cả buồn, em vươn hai cánh tay nói: - Thế nhé! Bác Phi – líp, bác là bố cháu". Để rồi, ngày hôm sau tới trường, Xi – mông đã thật hãnh diện và hạnh phúc biết bao "như ném một hòn đá", quát vào mặt lũ bạn "Bố tao ấy à, bố tao tên là Phi – lip". Sau này, Phi – líp đã làm bố thật sự của Xi – mông. Lòng nhân hậu của bác đã hóa giải nỗi đau, nỗi bất hạnh của chị Blăng – sốt, bé Xi – mông và mang lại hạnh phúc cho cả chính mình.

"Bố của Xi – mông là câu chuyện về một mảnh đời đặc biệt của trẻ thơ, mảnh đời ấy nhắc nhở mọi người về quyền của trẻ em được sống trong tổ ấm gia đình. Nó còn cho thấy khát vọng trong sáng của tuổi thơ có thể đánh thức dậy ở người khác tình yêu thương, lòng nhân hậu và thái độ không định kiến với những người ở xung quanh mình" (Lê Nguyên Cẩn, Bố của Xi – mông, Cảm thụ và phân tích tác phẩm văn học 9, tập hai, NXB Giáo dục)

Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi mông - mẫu 3

Truyện ngắn “Bố của Xi-mông” kể về nỗi tủi nhục của một em bé “không có bố” với bao tình yêu thương, chứa chan tinh thần nhân đạo.

Bé Xi-mông và mẹ em – chị Blang-sốt thật đáng thương; cuộc đời hai mẹ con để lại trọng lòng độc giả nhiều thương cảm.

Xi-mông là đứa con ngoài giá thú. Mẹ em là “một cô gái đẹp nhất vùng” đã bị lầm lỡ tình yêu… Hai mẹ con sống âm thầm trong một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng hết sức sạch sẽ. Người đàn bà này tên là Blăng-sốt “cao lớn, xanh xao” phải lao động cực nhọc để nuôi con trước cái nhìn ghẻ lạnh của người đời. Tuổi thơ của Xi-mông là những chuỗi ngày cô đơn trong ngôi nhà nhỏ, lạnh lẽo. Em thiếu tình thương và sự chăm sóc của bố.

Trường học cũng không phải là cái nôi hạnh phúc của em. Tám tuổi, em mới được đến trường. Lớp học là nơi hội tụ của những đứa trẻ thô lỗ, cục cằn; cái ác cái xấu sớm ngự trị trong tâm hồn chúng. Xi-mông đau khổ, cay đắng bị lũ trẻ dùng những lời “ác độc” nhất, những tiếng cười khả ố nhất, giễu cợt nhất đã dồn em đến chân tường. Xi-mông phải tự vệ và đã bị lũ trẻ “‘quỷ quái” hành hạ suốt ngày này qua ngày khác. Người đọc đã hơn một thế kỷ nay không khỏi buồn phiền xót xa khi nghĩ về em Xi-mông bị bạn học cùng lớp làm cho đau đớn tả thể xác lẫn tâm hồn.

Bị bọn trẻ xua đuổi, bị đánh tơi tả, bé Xi-mông đau khổ, bế tắc hoàn toàn. Em không thể sống trong tủi nhục vì “không có bố”. Dòng sông, nơi em sẽ đến tự tử có thể xoa dịu nỗi đau khổ và cô đơn của em? Một đứa bé 8 tuổi cảm thấy không thể sống trong nỗi đau khổ, nỗi nhục, phải nhảy xuống sông tự tử, thì bi kịch về thân phận con người đã lên đến cực điểm. Tình tiết này rất cảm động và điển hình cho nỗi gian khổ cô đơn của những em bé trên cõi đời vì một lí do nào đó mà “không có bố”.

Xi-mông với bãi cỏ xanh, với chú nhái cạnh dòng sông được miêu ta đầy chất thơ. Thiên nhiên rất đẹp. Trời ấm. Ánh nắng êm đềm sưởi nóng cỏ. Nước lấp lánh như gương. Bãi cỏ xanh như chiếc nôi xoa dịu nỗi đau khổ cô đơn của em. Xi-mông ngắm dòng sông, em rất thèm được nằm ngủ trên bãi cỏ dưới nắng ấm. Con nhái màu xanh “dương tròn con mắt có vành vàng” hình như đã níu giữ chân em trước tử thần? Xi-mông được sống hồn nhiên trước cảnh sắc thiên nhiên. Nhưng nỗi đau về thân phận quá lớn. Đây là hình ảnh Xi-mông: “Người em rung lên, em quỳ xuống em đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ”. Em khóc nức nở. Em “chi khóc mà thôi”. Em chẳng nhìn thấy gì nữa. Em đi dần đến tuyệt vọng. Mô-pa-xăng đã miêu tả tâm lí bé Xi-mông với tất cả tình thương xót. Ông chỉ cho mọi người thấy rằng, dù thiên nhiên có đẹp đến đâu, ngoại cảnh có đẹp đến đâu con người vẫn bất hạnh, khó sống nổi trong cảnh ngộ cô đơn và thiếu tình thương, nhất là những đứa bé “không có bố”.

Một tình huống bất ngờ đã xảy đến. Chú thợ rèn “cao lớn, rau tóc đen quăn… nhân hậu” đã đến với Xi-mông. Chú đã “lau khô” đôi mắt đẫm lệ của em. Chú đã an ủi em với tình thương của một con người “có phép lạ”: Thôi nào, nguôi đi nào, cháu bé, rồi đi với chú về nhà mẹ. Người ta sẽ cho cháu… một ông bố”. Một câu nói giản dị sẽ xoa dịu nỗi cô đơn cho bé Xi-mông, và cả cho mẹ em là Blăng-sôì.

Cảnh bé Xi-mông bất ngờ gặp chú thợ rèn bên bờ sông là cảnh rất cảm động.

Em bé thơ ngây được sống, và người ta sẽ cho em “một ông bố”. Đọan đối thoại giữa chú thợ rèn và bé Xi-mông thấm đẫm tình cảm nhân đạo. Nước mắt khô dần trên má em; em đã được chú thợ rèn dắt tay trả về với mẹ.

Tính cách bé Xi-mông được khắc họạ đậm nét khi em gặp lại mẹ. Em hỏi chú thợ rèn: “Chú có muốn làm bố cháu không?”. Khi được chú thợ rèn nhấc bổng lên, hôn vào má em và nói: “Có chứ, chú có muốn” thì tâm hồn em “hoàn toàn khuây khỏa” và em đã khắc cái lên Phi-lip vào lòng, với niềm tự hào “có bố”. Câu nói của Xi-mông như một lời nguyền hẹn ước: “Chú Phi-líp, chú là bố cháu đấy nhé!”. Có bố đó là niềm hạnh phúc của mỗi em bé trên cõi đời. Có bố là có nơi nương tựa. “Con có cha như nhà có nóc” (Tục ngữ). Có bố tức là có quyền làm người. Có bố, tuổi thơ mới thực sự được sống hạnh phúc. Xi-mông đã hãnh diện tuyên bố với lũ bạn “như ném một hòn đá”:

“Bố tao ấy, bố tao là Phi-lip”.

Em đã có bố. Em cảm thấy mình đã lớn lên! Đó là niềm vui và hạnh phúc tuổi thơ!

Đọc truyện “Bố của Xi-mông”, ai mà không xúc động? Mô-pa-xăng đã từng nếm bao cay đắng về thân phận mồ côi từ độ lên mười, nên ông đã dành cho bé Xi- mông và chị Blăng-sốt bao cảm thông về tình thương san sẻ. Tình cảm nhân đạo dào dạt trang văn của ông. Cái hay của đoạn văn là ở bút pháp tinh tế lấy cảnh để tả tình, là ở nghệ thuật đối thoại, là ở tình huống chú thợ rèn gặp bé Xi-mông ở bờ sông, chú thợ rèn gặp chị Blăng-sốt.

“Không có bố thì đau khổ!”, “Có bố thì hạnh phúc”. Như một chân lý giản dị, giàu nhân bản. Bé Xi-mông thật đáng thương và đáng yêu !

Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi mông - mẫu 4

Với hàng chục tiểu thuyết, khoảng 300 truyện ngắn, tên tuổi Mô-pa-xăng, nhà văn vĩ đại Pháp cuối thế kỷ XIX trở thành bất tử. Cuộc đời nhà văn là những trang buồn. Có lẽ vì thế nên ông mới viết về thân phân con người với nhiểu cảm thương thân thiết thế?

Truyện ngắn Bố của Xi-mông kể về nỗi tủi nhục của một em bé "không có bố" với bao tình yêu thương, chứa chan tinh thần nhân đạo.

Bé Xi-mông và mẹ em - chị Blăng-sốt, thật đáng thương; cuộc đời hai mẹ con để lại trong lòng độc giả nhiều thương cảm.

Xi-mông là đứa con ngoài giá thú. Mẹ em là "một cô gái đẹp nhất vùng" đã bị lầm lỡ tình yêu... Hai mẹ con sống âm thầm trong một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng hết sức sạch sẽ. Người đàn bà này tên là Blăng-sốt, "cao lớn, xanh xao", phải lao động cực nhọc để nuôi con trước cái nhìn ghẻ lạnh của người đời.

Tuổi thơ của Xi-mông là những chuỗi ngày cô đơn trong ngôi nhà nhỏ, lạnh lẽo. Em thiếu tình thương và sự chăm sóc của bố.

Trường học cũng không phải là cái nôi hạnh phúc của em. Tám tuổi, em mới được đến trường. Lớp học là nơi hội tụ của những đứa trẻ thô lỗ, cục cằn; cái ác cái xấu sớm ngự trị trong tâm hồn chúng. Xi-mông đau khổ, cay đắng bị lũ trẻ hạ lưu dùng những lời "ác độc" nhất, những tiếng cười khả ố nhất, giễu cợt nhất đẩy dồn em đến chân tường. Xi-mông phải tự vệ và đã bị lũ trẻ "quỷ quái" hành hạ suốt ngày này qua ngày khác. Người đọc đã hơn một thế kỷ nay không khỏi buồn phiền xót xa khi nghĩ về em Xi-mông bị bạn học cùng lớp làm cho đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn.

Bị bọn trẻ "xua đuổi", bị đánh tơi tả, bé Xi-mông đau khổ, bế tắc hoàn toàn. Em phải chết. Em không thể sống trong tủi nhục vì "không có bố". Dòng sông, nơi em sẽ đến tự tử có thể xoa dịu nỗi đau khổ và cô đơn của em? Một đứa bé 8 tuổi cảm thấy không thể sống trong nỗi đau khổ, nỗi nhục, phải nhảy xuống sông tự tử, thì bi kịch về thân phận con người đã lên đến cực điểm. Tình tiết này rất cảm động và điển hình cho nỗi đau khổ cô đơn của những em bé trên cõi đời vì một lí do nào đó mà "không có bố".

Xi-mông với bãi cỏ xanh, với chú nhái cạnh dòng sông được miêu tả đầy chất thơ. Thiên nhiên rất đẹp. Trời ấm. Ánh nắng êm đềm sưởi nóng cỏ. Nước lấp lánh như gương. Bãi cỏ xanh như chiếc nôi xoa dịu nỗi đau khổ cô đơn của em. Xi-mông ngắm dòng sông, em rất thèm được nằm ngủ trên bãi cỏ dưới nắng ấm. Con nhái màu xanh "giương tròn con mắt có vành vàng" hình như đã níu giữ chân em trước tử thần? Xi-mông được sống hồn nhiên trước cảnh sắc thiên nhiên. Nhưng nỗi đau về thân phận quá lớn. Đây là hình ảnh Xi-mông: "Người em rung lên, em quỳ xuống và em đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ". Em khóc nức nở. Em "chỉ khóc mà thôi". Em chẳng nhìn thấy gì nữa. Em đi dần đến tuyệt vọng. Mô-pa-xăng đã miêu tả tâm lý bé Xi-mông với tất cả tình thương xót. Ông chỉ cho mọi người thấy rằng, dù thiên nhiên có đẹp đến đâu, ngoại cảnh có đẹp đến đâu, con người vẫn bất hạnh, khó sống nổi trong cảnh ngộ cô đơn và thiếu tình thương, nhất là những đứa bé "không có bố".

Một tình huống bất ngờ đã xảy đến. Chú thợ rèn "cao lớn, râu tóc đều quăn... nhân hậu" đã đến với Xi-mông. Chú đã "lau khô" đôi mắt đẫm lệ của em. Chú đã an ủi em với tình thương của một con người "có phép lạ": " Thôi nào, nguôi đi nào, cháu bé, rồi đi với chú về nhà mẹ. Người ta sẽ cho cháu... một ông bố". Một câu nói giản dị sẽ xoa dịu nỗi buồn nỗi cô đơn cho bé Xi-mông, và cả cho mẹ em - chị Blăng-sốt.

Cảnh bé Xi-mông bất ngờ gặp chú thợ rèn bên bờ sông là cảnh rất cảm động. Em bé thơ ngây được sống, và người ta sẽ cho em "một ông bố". Đoạn đối thoại giữa chú thợ rèn và bé Xi-mông thấm đẫm tình cảm nhân đạo. Nước mắt khô dần trên má em; em đã được chú thợ rèn dắt tay đưa về với mẹ.

Tính cách bé Xi-mông được khắc họa đậm nét khi em gặp lại mẹ. Em hỏi chú thợ rèn: "Chú có muốn làm bố cháu không?". Khi được chú thợ rèn nhấc bổng lên, hôn vào má em và nói: " Có chứ, chú có muốn" thì tâm hồn em "hoàn toàn khuây khỏa" và em đã khắc cái tên Phi-líp vào lòng, với niềm tự hào "có bố". Câu nói của Xi-mông như một lời nguyền hẹn ước: "Chú Phi-líp, chú là bố cháu đấy nhé". Có bố, đó là niềm hạnh phúc của mỗi em bé trên cõi đời. Có bố là có nơi nương tựa. "Con có cha như nhà có nóc" (Tục ngữ). Có bố tức là có quyền làm người. Có bố, tuổi thơ mới thực sự được sống hạnh phúc. Xi-mông đã hãnh diện tuyên bố với lũ bạn "như ném một hòn đá":

"Bố tao đấy, bố tao là Phi-líp".

Em đã có bố. Em cảm thấy mình đã lớn lên! Đó là niềm vui và hạnh phúc tuổi thơ!

Đọc truyện Bố của Xi-mông, ai mà không xúc động? Mô-pa-xăng đã từng nếm bao cay đắng về thân phận mồ côi từ độ lên mười, nên ông đã dành cho bé Xi-mông và chị Blăng-sốt bao cảm thông về tình thương san sẻ. Tình cảm nhân đạo dào dạt trang văn của ông. Cái hay của đoạn văn là ở bút pháp tinh tế lấy cảnh để tả tình, là ở nghệ thuật đối thoại, là ở tình huống chú thợ rèn gặp bé Xi-mông ở bờ sống, chú thợ rèn gặp chị Blăng-sốt.

"Không có bố thì đau khổ" "Có bố thì hạnh phúc". Như một chân lý giản dị, giàu nhân bản. Bé Xi-mông thật đáng thương và đáng yêu!

Phân tích nhân vật Xi-mông trong truyện ngắn Bố của Xi mông - mẫu 5

Bài viết theo trình tự sự việc, qua từng sự việc thể hiện tính cách, tâm trạng của từng nhân vật. Trong truyện ngắn, mỗi nhân vật có một hoàn cảnh khác nhau nhưng có một điểm chung là tình cảm họ dành cho nhau rất chân thành.

Xi-mông là một em bé có hoàn cảnh éo le. Em không có bố, em sinh ra và lớn lên trong sự nuôi dưỡng dạy dỗ của mẹ. Đến khi đi học, ngày đầu tiên đến trường em đã bị bạn bè chế giễu, rằng em không có bố. Em buồn bã, tuyệt vọng, tuy nhiên em là một đứa trẻ không biết cách tìm một người nào đó tâm sự mà lại có ý định ra sông để tìm đến cái chết. Ra bờ sông, em nhìn thấy cảnh đẹp, thấy chú nhái xanh, em liền lăn vào cảnh đẹp và vui chơi, các ý nghĩ ban đầu của em biến mất, như bao đứa trẻ, em không thể từ chối những trò chơi hấp dẫn. Nhưng chợt nhớ ra ý nghĩ ban đầu, em lại buồn bã và khóc, khóc hoài. Trong đầu em bây giờ không thể nghĩ ra cái gì, không thể nào nghĩ ra cách để em có bố. Em chỉ là một cậu bé bảy tuổi, tính cách rất trẻ con, chưa biết suy nghĩ nhiều. Gặp bác Phi- líp, được bác nói rằng: “Người ta sẽ cho cháu một ông bố”, Xi-mông liền vui và theo bác về nhà, vì em nghĩ rằng người ta có thể dễ dàng cho nhau một ông bố, chuyện đó rất đơn giản, về nhà, em khóc lóc với mẹ, rồi quay ra hỏi bác Phi-líp: “Bác có muốn làm bố của cháu không?”. Không thấy bác trả lời, em liền đưa cái chết ra dọa dẫm. Dường như, em vẫn chưa tin bác Phi-líp; muốn khẳng định lại việc bác vừa nói, thể hiện Xi-mông rất trẻ con, chưa hiểu được mọi việc, em rất muốn có bố để có thể hãnh diện cùng bạn bè. Dù vậy, ta vẫn nhận thấy lòng khát khao có bố của Xi- mông, em đã được mẹ chăm sóc, nhưng em vẫn cần sự dũng mành, tự tin, sự che chở của người bố.

Một người đàn ông giàu lòng nhân ái, đã nhận làm bố của Xi-mông, chính là bác Phi-líp. Bác đã gặp Xi-mông trong lúc em đang khóc, bác ân cần hỏi thăm, an ủi em, giúp cho em không buồn bã. Một người đàn ông biết quan tâm đến người khác, rất ân cần điềm đạm, đặc biệt là một người yêu trẻ. Biết hoàn cảnh của mẹ con chị Blăng-sốt, bác không những không từ chối, mà còn nhận làm bố Xi-mông.

Tình cảm của bác dành cho mẹ con chị Blăng-sốt là sự cảm thông trước nỗi hổ thẹn của chị. Bác cảm thấy thương cho Xi-mông, em còn quá nhỏ để đón nhận sự thật rằng em không có bố. Ta cảm nhận trong con người của bác Phi-líp là tấm lòng hào hiệp, hết sức nhân từ. Cảm động trước tình cảm của hai mẹ con bác muốn chia sẻ một phần nỗi đau, nỗi buồn mà hai mẹ con chị Blăng-sốt đã phải nhận. Với tấm lòng nhân ái, thương yêu con người của bác Phi-líp, bác thực sự là một người đàn ông có thể gửi gắm niềm tin.

Người phụ nữ đã sinh ra, nuôi dưỡng, dạy dỗ Xi-mông bao lâu nay là mẹ của em, chị Blăng-sốt. Chỉ vì một lầm lỡ, sinh ra Xi-mông không có bố, chị đã vất vả một mình nuôi nấng Xi-mông. Dành cho con tình yêu thương của cả cha lẫn mẹ, chị không bao giờ muốn con trai mình phải buồn bã vì bất cứ chuyện gì. Và thực sự, Xi-mông chưa bao giờ buồn và thấy thiếu vắng trong gia đình bóng dáng của người bố. Có thể nói em đã nhận được tình yêu thương vô bờ bến của mẹ, mà không thấy vắng cha. Cho đến khi, con bị bạn bè chế giễu, buồn khóc với mẹ, chị ôm lấy con mà trong lòng đau xót tê tái, chị thấy hổ thẹn, đau đớn tột cùng, mà không thể nói thành tiếng. Nỗi đau chị đã phải chịu đựng hàng bao năm nay, tưởng chừng như có thể quên đi vĩnh viễn.

Nỗi đau khổ càng tăng lên càng cho ta thấy nhân cách của chị là một người phụ nữ đức hạnh, người mẹ rất đỗi yêu con đồng thời là một con người giàu lòng tự trọng. Một mình nuôi dưỡng con mà không có sự giúp đỡ của chồng, chị vẫn làm tốt trong vai trò của cả cha và mẹ. Ngôi nhà mà hai mẹ con chị đang sống là một ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng, hết sức sạch sẽ. Chỉ cần nhìn vẻ ngoài của ngôi nhà, ta vẫn nhận thấy trong gia đình có bàn tay của một người phụ nữ đảm đang, chị đã sắp xếp cho hai mẹ con một cuộc sống ngăn nắp. Tuy gia đình còn khó khăn, còn nghèo, nhưng luôn ấm áp, bởi nó được sưởi ấm bằng chính tình yêu thương của mẹ. Khi con dẫn một người lạ về nhà, lại nhận làm bố, chị cảm thấy hổ thẹn và lòng tự trọng của mình bị tổn thương. Điều này càng chứng tỏ nhân cách trong sáng của một người phụ nữ đức hạnh.

Thông qua truyện ngắn “Bố của Xi-mông”, tác giả muốn gửi đến người đọc một thông điệp: “Con người hãy sống với nhau bằng tình yêu thương, cảm thông chia sẻ, đừng bao giờ sống tàn nhẫn, cười cợt trên nỗi đau của người khác”. Người đọc cũng cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng, bền chặt không bao giờ thay đổi. Đó chính là bài học cho chúng ta hãy sống nhân ái, thương yêu, luôn giúp đỡ mọi người – một bài học triết lí sâu sắc đối với mỗi chúng ta.

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 9 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Giới thiệu kênh Youtube hoconline


bo-cua-xi-mong.jsp