Top 8 phân tích, cảm nhận bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính (hay, ngắn gọn)



Phần dưới tổng hợp trên 8 bài văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm Tương tư của Nguyễn Bính hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

Dàn ý Phân tích bài thơ Tương tư

I. Mở bài: 

- Giới thiệu bài thơ Tương tư - Nguyễn Bính.

II. Thân bài: Phân tích bài thơ tương tư của nhà thơ Nguyễn Bính.

1. 4 câu thơ đầu:

- Nỗi tương tư của nhà thơ.

- Hình ảnh đôi trai gái mang dáng vóc mộc mạc, giản dị.

- Sự nhớ thương da diết của chàng trai, nỗi nhớ thương của một người dành cho một người.

2. Tâm trạng của người tương tư:

- Có sự trách móc nhẹ nhàng của chàng trai.

- Nhận thấy được tình cảm nồng thắm của chàng trai dành cho cô gái.

- Nỗi buồn da diết của người tương tư được thể hiện rất rõ ràng.

- Sự thay đổi cách xưng hô.

- Thể hiện nên sự độc đáo, chân thật, mộc mạc trong thơ Nguyễn Bình.

III. Kết bài

- Nêu cảm nhận của em về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bình.

Bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Phân tích bài thơ Tương tư

     Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám. Giữa những giọng điệu mới lạ, thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được âm hưởng gần gũi với ca dao dân ca, giản dị hồn nhiên mà ngọt ngào, thắm thiết. Tương tư in trong tập Lỡ bước sang ngang, xuất bản năm 1940 tại Hà Nội. Tập thơ này đã mang lại tiếng vang cho tác giả và dấy lên trong đông đảo người đọc một phong trào thuộc thơ, yêu thơ Nguyễn Bính. Bài thơ Tương tư nói lên tâm trạng khắc khoải chờ mong của một chàng trai đang yêu với tình yêu đơn phương không được đáp đền. Mối tương tư ấy được đặt vào khung cảnh nông thôn với dáng dấp một mối tình chân chất như trong ca dao và mang hương vị đồng quê mộc mạc.

     Tâm lí của những kẻ đang yêu là luôn muốn được gần gũi bên nhau. Bởi vậy, một ngày không gặp dài bằng ba thu. Những người đang yêu nhớ nhau mà không gặp được nhau thì sinh ra tương tư. Thường là một người thương nhớ một người mà không được đền đáp lại, trường hợp này trong văn chương mới gọi là tương tư. Lịch sử tình yêu xưa nay đã ghi nhận bao trái tim Trương Chi tan nát bởi mối hận tình. Chàng trai trong bài thơ này cũng tương tư nhưng có phần nhẹ nhàng hơn bởi tình yêu chưa đặt được cơ sở rạch ròi.

     Bốn câu thơ đầu bày tỏ nỗi nhớ mong khắc khoải của kẻ đang yêu. Chàng trai không giấu là mình tương tư:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

     Mối tương tư ấy được thể hiện bằng những hình thức quen thuộc trong ca dao xưa, ở đây, lối hoán dụ nghệ thuật, thủ pháp nhân hóa và thành ngữ dân gian kết hợp với nhau hài hòa, tự nhiên: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, rồi bệnh của giời, bệnh của tôi. Dường như đất trời cũng chia sẻ nhớ mong, dự phần tương tư với con người.

     Tôi yêu nàng, tôi tương tư, nào có khác chi trời lúc gió lúc mưa. Tâm trạng tương tư của chàng trai cũng tự nhiên như quy luật của trời đất vậy.

     “Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính xuất hiện cùng với những “cái tôi” khác trong Thơ mới lúc bấy giờ; có điều nó mang màu sắc độc đáo bởi nó thiết tha, chân thành, gần gũi với cuộc đời bình dị của người dân quê. Nó có thôn Đông, thôn Đoài, có chín nhớ mười mong, có trầu, có cau. Tưởng như một đôi trai gái đồng quê mới bén duyên nhau bên hàng rào dâm bụt, bên giậu mồng tơi, vừa rõ ràng mà vừa mơ hồ. Nhân vật tôi thì đã rõ, còn nhân vật nàng thì vẫn thấp thoáng, vu vơ.

     Nếu ở khổ thơ đầu, nhà thơ nói thật là mình đang tương tư thì đến ba khổ thơ sau, nhà thơ trách người mình yêu sao quá hững hờ:

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

     Vậy là chàng trai đang nhớ thật, đang tương tự thật, nhưng khổ tâm ở chỗ nhớ thương có đi mà không có lại. m điệu thơ lục bát uyển chuyển, mượt mà rất hợp với cách thể hiện dung dị: nào là hai bên chung lại một làng, bên ấy, bên này; nào là Cách nhau có một đầu đình; Có xa xôi mấy mà tình xa xôi. Trách móc rồi tự bộc bạch là mình Tương tư thức mấy đêm rồi và ước mong: Bao giờ bến mới gặp đò, Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? Trách, hỏi liên tiếp, dồn dập mà người ta vẫn hững hờ, xa xôi. Ở đời có những tình yêu như thế bởi đối tượng mình yêu đến tương tư kia lại mơ hồ, vô định. Trách và hỏi đều rơi vào khoảng trống khiến cho nỗi tương tư càng trở nên xót xa, vô vọng.

     Vẫn là bên ấy, bên này cách biệt. Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nay đã thành cây lá vàng. Thời gian cứ lạnh lùng trôi mà bên ấy vẫn bằn bặt bóng chim tăm cá. Hỏi làm sao bên này chẳng chờ đợi đến hao mòn, tàn úa? Mơ làm chi đến chuyện bao nhiêu ngói bấy nhiêu tình hay chuyện tam tứ núi, ngũ lục sông?

     Thế là đã rõ: Tất cả đều vu vơ, chỉ có một điều rất thật là nỗi buồn da diết của chàng trai đang tương tư. Yêu người mà chẳng được người yêu, nhớ mong mà chẳng gặp. Một mối tình như thế sẽ kết thúc ra sao? Chàng trai trở lại với ước mơ thầm kín về một cuộc hôn nhân tốt đẹp cùng nỗi băn khoăn, khắc khoải của lòng mình:

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

     Đến lúc này thì không cần vòng vo, ẩn giấu chi nữa, chàng trai không còn xưng tôi mà mạnh dạn xưng là anh và gọi nàng bằng em. Cũng chẳng cẩn bóng gió xa xôi: Bao giờ bến mới gặp đò hay Tương tư thức mấy đêm rồi mà nói thẳng đến chuyện hôn nhân:

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

     Thử hình dung cau ấy, trầu này mà kết thành một mâm xinh đẹp thì thật tà đúng nghi lễ cưới xin. Nhưng trớ trêu làm sao: trầu thì ở nhà em, cau lại ở nhà anh. Em ở thôn Đông, anh ở thôn Đoài: Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông. Vậy: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? Như vậy là tương tư chưa đi quá nỗi nhớ và nỗi nhớ vẫn chỉ là một bên, một chiều. Tuy có nhích lên một chút cho thân mật hơn trong cách xưng hô anh và em, nhưng rồi lại quay về nơi ẩn náu cũ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, nghĩa là chẳng tiến lên được một bước nào. Mon men tới chuyện trầu cau nhưng vẫn không thoát khỏi nỗi buồn bởi nhớ nhung người ta mà chẳng được người ta đền đáp lại. Cho nên đành chấm dứt nỗi sầu bằng một câu hỏi tu từ: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? “Cái tôi” hiện đại bộc lộ một cách tự nhiên dưới hình thức quen thuộc của ca dao xưa: thôn Đoài, thôn Đông… và nhờ đó mà nỗi đau dường như vợi bớt. Cho nên nỗi tương tư cũng mới chỉ đến mức chín nhớ mười mong hoặc thức mấy đêm rồi, kể cả sự vô vọng dường như kéo dài dằng dặc trong không gian và thời gian kia cũng chỉ là chuyện bến chưa gặp đò, hoa chưa gặp bướm mà thôi.

     Bài thơ là một mảnh hồn của nhà thơ, là “cái tôi”mang đậm phong cách Nguyễn Bính: giản dị, hồn nhiên, dân dã mà không kém phần thơ mộng, lãng mạn. Nhà thơ nói chuyện tương tư, kì thực là nói tới khao khát tình yêu và hạnh phúc. Qua đó khẳng định “cái tôi cá nhân” với quyền được sống đúng nghĩa của nó. Tương tư là một trong nhiều dẫn chứng chứng minh cho nhận xét tinh tế của Tô Hoài: Nguyễn Bính là nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê.

Dàn ý Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư

1. Mở bài

- Giới thiệu khái quát về bài thơ "Tương tư" của Nguyễn Bính.

- Khái quát về nội dung chính của bốn câu thơ cuối.

2. Thân bài

a. Bốn câu thơ cuối thể hiện nỗi nhớ và khát vọng lứa đôi thầm kín, e ấp của chàng trai

- Bốn câu thơ cuối là sự nối tiếp mạch cảm xúc "tương tư" ở những câu thơ trước.

- Tác giả đã trực tiếp giãi bày, bộc bạch tình cảm thông qua đại từ nhân xưng "anh" và "em".

- Khát vọng lứa đôi được thể hiện thông qua hình ảnh "giàn giầu" và "hàng cau".

- Nỗi nhớ e ấp, thầm kín nhưng khắc khoải khôn nguôi được thể hiện qua hai miền không gian "thôn Đoài", "thôn Đông".

- Câu hỏi tu từ vang lên như một lời bỏ lửng vấn vương về mơ ước và hi vọng vào một tình yêu không được hồi đáp, qua đó thể hiện tình yêu giản dị, chân thành của tác giả.

b. Bốn câu thơ cuối thể hiện vẻ đẹp dân gian, dân giã trong hồn thơ Nguyễn Bính

- Lớp ngôn từ giản dị, mộc mạc.

- Giọng thơ mang âm hưởng của sự ngọt ngào, ngân vang êm dịu như những khúc hát dân ca sâu lắng tâm tình.

- Vận dụng thành công những thi liệu về địa danh, cỏ cây thấm đẫm hương vị của làng quê Việt Nam: "thôn Đoài", "thôn Đông", "giàn giầu", "hàng cau",...

3. Kết bài

- Đánh giá khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bốn câu thơ cuối.

Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư

     Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám. Giữa những giọng điệu mới lạ, thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được âm hưởng gần gũi với ca dao dân ca, giản dị hồn nhiên mà ngọt ngào, thắm thiết. Tương tư in trong tập Lỡ bước sang ngang, xuất bản năm 1940 tại Hà Nội. Tập thơ này đã mang lại tiếng vang cho tác giả và dấy lên trong đông đảo người đọc một phong trào thuộc thơ, yêu thơ Nguyễn Bính. Bài thơ Tương tư nói lên tâm trạng khắc khoải chờ mong của một chàng trai đang yêu với tình yêu đơn phương không được đáp đền. Mối tương tư ấy được đặt vào khung cảnh nông thôn với dáng dấp một mối tình chân chất như trong ca dao và mang hương vị đồng quê mộc mạc…

     Tâm lí của những kẻ đang yêu là luôn muốn được gần gũi bên nhau. Bởi vậy, một ngày không gặp dài bằng ba thu. Những người đang yêu nhớ nhau mà không gặp được nhau thì sinh ra tương tư. Thường là một người thương nhớ một người mà không được đền đáp lại, trường hợp này trong văn chương mới gọi là tương tư. Lịch sử tình yêu xưa nay đã ghi nhận bao trái tim Trương Chi tan nát bởi mối hận tình. Chàng trai trong bài thơ này cũng tương tư nhưng có phần nhẹ nhàng hơn bởi tình yêu chưa đặt được cơ sở rạch ròi.

     “Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính xuất hiện cùng với những “cái tôi” khác trong Thơ mới lúc bấy giờ; có điều nó mang màu sắc độc đáo bởi nó thiết tha, chân thành, gần gũi với cuộc đời bình dị của người dân quê. Nó có thôn Đông, thôn Đoài, có chín nhớ mười mong, có giàu, có cau… Tưởng như một đôi trai gái đồng quê mới bén duyên nhau bên hàng rào dâm bụt, bên giậu mùng tơi, vừa rõ ràng mà vừa mơ hồ. Nhân vật tôi thì đã rõ, còn nhân vật nàng thì vẫn thấp thoáng, vu vơ.

     Yêu người mà chẳng được người yêu, nhớ mong mà chẳng gặp. Một mối tình như thế sẽ kết thúc ra sao? Chàng trai trở lại với ước mơ thầm kín về một cuộc hôn nhân tốt đẹp cùng nỗi băn khoăn, khắc khoải của lòng mình:

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

     Đến lúc này thì không cần vòng vo, ẩn giấu chi nữa, chàng trai không còn xưng tôi mà mạnh dạn xưng là anh và gọi nàng bằng em. Cũng chẳng cẩn bóng gió xa xôi: Bao giờ bến mới gặp đò… hay Tương tư thức mấy đêm rồi… mà nói thẳng đến chuyện hôn nhân:

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

     Thử hình dung cau ấy, giàu này mà kết thành một mâm xinh đẹp thì thật tà đúng nghi lễ cưới xin. Nhưng trớ trêu làm sao: giàu thì ở nhà em, cau lại ở nhà anh. Em ở thôn Đông, anh ở thôn Đoài: Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông. Vậy: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? Như vậy là tương tư chưa đi quá nỗi nhớ và nỗi nhớ vẫn chỉ là một bên, một chiều. Tuy có nhích lên một chút cho thân mật hơn trong cách xưng hô anh và em, nhưng rồi lại quay về nơi ẩn náu cũ:

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

     Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, nghĩa là chẳng tiến lên được một bước nào. Mon men tới chuyện trầu cau nhưng vẫn không thoát khỏi nỗi buồn bởi nhớ nhung người ta mà chẳng được người ta đền đáp lại. Cho nên đành chấm dứt nỗi sầu bằng một câu hỏi tu từ: Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ? “Cái tôi” hiện đại bộc lộ một cách tự nhiên dưới hình thức quen thuộc của ca dao xưa: thôn Đoài, thôn Đông… và nhờ đó mà nỗi đau dường như vợi bớt. Cho nên nỗi tương tư cũng mới chỉ đến mức chín nhớ mười mong hoặc thức mấy đêm rồi, kể cả sự vô vọng dường như kéo dài dằng dặc trong không gian và thời gian kia cũng chỉ là chuyện bến chưa gặp đò, hoa chưa gặp bướm mà thôi.

   Nguyễn Bính (1918 -1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính (có thời kì lấy tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở làng Thiện Vịnh xã Đông Hội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sớm mồ côi mẹ, năm 10 tuổi phải theo anh lên Hà Nội kiếm sống. Nguyễn Bính làm thơ khi mới 13 tuổi và sớm thể hiện tài năng sáng tác của mình. Năm 1943, ông vào Nam Bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc và tiếp tục tham gia công tác báo chí văn nghệ.

   Trong khi phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với hồn thơ dân tộc và hấp dẫn người đọc bằng chính hồn thơ này. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bính đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương, đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha. Vì thế, Nguyễn Bính được coi là thi sĩ đồng quê và có nhiều tác phẩm được truyền tụng rộng khắp.

   Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính trước Cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941) Mười hai bến nước (1942), Cây đàn tì bà (truyện thơ -1944); sau cách mạng có: Ông lão mài gươm (1847), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ — 1958), Đêm sao sáng (1962), Cô Son (chèo - 1961), Người lái dò sông Vị (chèo - 1962)...

Dàn ý Cảm nhận về bài thơ Tương tư

1. Mở bài

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Bính.

- Giới thiệu chung về tác phẩm Tương tư.

2. Thân bài

a. Phần 1: Chàng trai bày tỏ nỗi tương tư của mình

* Tác giả bày tỏ nỗi tương tư:

- “Tương tư” là cảm giác nhớ thương của một kẻ đang yêu, nói đúng hơn là của người yêu đơn phương. Mối tình ấy được ấp ủ, được dồn nén thành lời qua những vần thơ mộc mạc, chân thành nhất.

- Bốn câu thơ đầu bày tỏ nỗi nhớ mong khắc khoải của kẻ đang yêu. Chàng trai bày tỏ nỗi tương tư của mình:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bênh của tôi yêu nàng”

- Nghệ thuật: nhân hóa

=> Mượn hình ảnh “Thôn Đoài”, “thôn Đông” để nói lên nỗi nhớ của mình.

- Mượn chuyện nắng mưa của giời để trải lòng mình. Tác giả coi “tương tư” là một căn bệnh tiềm ẩn trong chính con người mình, tự nhiên như quy luật đất trời vậy.

* Sự hờn trách của chàng trai:

Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

Tương tư thức mấy đêm rồi

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

- Những câu hỏi dồn dập, nối tiếp nhau tạo nên sự bối rối, lo lắng và chồng chất nỗi niềm trong lòng chàng trai đang yêu. Tác giả đã mượn lối nói dân gian của ca dao, dân ca để hỏi dò cớ sao cô gái lại hững hờ như vậy.

- Giọng điệu thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển, tha thiết như truyền tải thông điệp đến cho cô gái.

- “Cớ sao”: lời trách nhưng lại rất tế nhị, đáng yêu.

=> Mối tương tư của chàng trai trằn trọc suốt bao đêm, nhưng chẳng biết ngỏ cùng ai, rồi cũng chẳng ai thấu cho. Nỗi băn khoăn cứ chồng chất, cứ dai dẳng và đợi chờ.

b. Phần 2: Khao khát hạnh phúc lúa đôi trọn vẹn

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hang cau liên phòng

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài ngồi nhớ trầu không thôn nào?

- Tác giả mượn hình ảnh quen thuộc, mộc mạc “cau”, “giầu” để diễn tả tình yêu. Trầu cau để bắt đầu tình yêu đã đẹp, trầu cau để bắt đầu một cuộc sống gia đình, một đám cưới còn đẹp hơn. Có trầu thì phải có cau, màu trầu cau thì hai ta đã sẵn.

- Thay đổi cách xưng hô “tôi – em” thành “anh – em”

=> Sự mạnh dạn chuyển đổi cách xưng hô, cách gọi thân mật. Dấu hiệu này chứng tỏ mối tình đã quá lớn, đã quá sâu và chàng trai muốn giãi bày trực tiếp với cô gái.

3. Kết bài

- Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Cảm nhận về bài thơ Tương tư

     Kề vai bên những áng thơ mới tuyệt tác từ Xuân Diệu, Thế Lữ hay Huy Cận,… người ta vẫn chẳng thể nào quên được những bài thơ mộc mạc, “ hương đồng gió nội” của Nguyễn Bính. Tình yêu trong thơ của ông luôn đỗi ngọt ngào, trầm lắng tựa như chính tâm hồn tác giả. Bài thơ “ Tương Tư” trong tập “ Lỡ bước sang ngang” đã phần nào thể hiện nên những dòng chảy tâm sự của một kẻ đang yêu đơn phương với biết bao cảm giác nhớ thương, mong mỏi.

     Thơ Nguyễn Bính mang màu sắc dân gian Người đời đã nói, người đau khổ nhất trong tình yêu chính là kẻ yêu đơn phương. Khi yêu, con người ta cầu mong luôn được ở cạnh người thương, được kề vai gần gũi, tâm sự. Những người đang yêu nhau mà không được gặp nhau thì sinh ra “ bệnh tương tư”. Chàng trai trong bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính đang ngày đêm nhớ thương một người mà chưa được hồi âm. Bởi thế bốn câu đầu tiên trong bài đã bộc lộ ngay những cảm xúc khắc khoải đang chất đứa đầy trong lòng chàng trai:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng…”

     Giữa những chốn không gian bình dị, hiền hòa và yên bình, tác giả mượn “ thôn đoài” với “ thôn đông” tựa như giữa ta với nàng, để giãi bày những cảm xúc từ tận sâu đáy tim mình. Phải chăng người thương của tác giả đang ở tận chốn thôn Đông, còn ta ngồi đây nhớ mong đến nàng. Đôi chốn thôn quê yên ả đang ấm ủ, vun vén cho một tình cảm đẹp đang nảy nở trong lòng nhà thơ.

     Thủ pháp nhân hóa tiếp tục được sử dụng trong hai hình ảnh “ mưa” “ nắng”. Sau cơn mưa trời sẽ hửng nắng, cũng như bệnh tương tư thường khó tránh khỏi trong tình yêu. Tác giả mượn chính những công việc của tạo hóa để giải thích cho bệnh tương tư của mình. Căn bệnh ấy là rất đỗi bình thường tựa như quy luật của đất trời khi người ta đang muốn đắm chìm trong nhớ thương. Đặc biệt, trong cả hai dòng thơ thứ ba và thứ tư đều có hệ từ “ là”. Nó tạo nên một phép so sánh hoàn toàn có cơ sở giữa căn bệnh tương tự với tự nhiên.

     Cái “ tôi” trong thơ Nguyễn Bính xuất hiện cùng với “ nàng”. Không còn chút e ấp ngại ngùng che giấu tình cảm, cũng chẳng cần gọi “ nắng” gọi “ mưa” để ví von tình cảm, nhân vật tôi hiện lên một cách rõ rệt cùng với những cảm xúc tưởng chừng muốn bùng nổ, để cho “ nàng” biết rõ được tình cảm của mình vậy. Yêu nhau chẳng thể tránh những cảm xúc giận hờn, băn khoăn:

“ Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”

     Đôi ta tuy hai thôn nghe chừng xa xôi, ấy nhưng lại chỉ chung một làng. Khi lòng ta muốn hướng về nhau thì dù xa xôi cách trở cũng sẽ sẽ hòa chung lại làm một. Hai con người nhưng nếu chung một tấm lòng yêu thương, sẽ muốn hướng tới một mái ấm gia đình. Và ngôi làng ấy sẽ là nơi chúng ta vun vén cho ngôi nhà chung của đôi trai gái. “ Cớ sao” được thốt nên mang hơi hướng hờn dỗi, băn khoăn. Hiển nhiên, bên này rất muốn được “ chung” với bên ấy nhưng bên kia lại quá hờ hững. Việc tưởng chừng như rất thực tế, giản đơn lại chứa muôn trùng xa cách bởi lòng người.

     Những lời than thở tương tư lại tiếp tục tuôn trào qua những câu thơ tiếp theo:

“Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

     Đây có thể nói là đôi dòng thơ thành công nhất trong bài thơ Tương Tư để miêu tả chân thực nhất quy luật bất biến của tình yêu đơn phương. “Ngày qua ngày” lặp lại tựa như những cảm xúc đợi chờ đến vô vọng. Thời gian trôi đi càng khiến người ta sốt ruột, khó chịu vì đợi chờ hồi âm.ở câu thơ bát tiếp theo cũng có sự ngắt nhịp bất thường, nhịp ngắt ba “ lá xanh nhuộm” cùng năm từ “ đã thành cây lá vàng” càng khắc sâu cảm giác đợi chờ mòn mỏi. Tự thuở nào lá cây còn xanh non mơn mởn giống như những tình cảm chớm nở lúc mới yêu thế mà giờ đây, theo tháng năm đã phai tàn thành cây “ lá vàng”. Bệnh tương tư còn nhuộm cả màu của tình yêu. Như Nguyễn Du đã từng viết: 

“Người buồn cảnh có bao giờ vui đâu”

     Hay

”Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”

     Tâm hồn của con người cũng luôn đồng điệu với thiên nhiên vậy. Lòng đã không vui thì cảnh có đẹp đến nhường nào cũng hóa làm vô vị.

     Trạng thái tâm lý tiếp theo mang chút hờn trách xa xôi:

“Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy cho tình xa xôi…

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho! "

     Khi yêu đơn phương là chỉ dám ngắm nhìn người thương từ xa, nào có dám bộc lộ cho hết nỗi tâm tình trực tiếp với cô gái ấy. Nối thầm cho vơi bớt nỗi lòng nhưng lại cứ ngỡ cô gái mình yêu sẽ có thể hiểu thấu. Thôn đoài cùng với thôn đông chung một bến nước cây đa, cùng gọi tên chung một làng. Nào có cách trở xa xôi như “ cách trở đò giang”, ấy vậy mà ta cũng chẳng thể nào gặp nhau cho trọn vẹn để nói hết tâm tình. Chẳng qua cái tình còn xa, đối phương còn chưa biết được tình cảm của ta nên khiến cho mình vẫn phải cách trở, tương tư nhau. Đã thao thức biết bao đêm, đã khiến cho lá cũng úa màu, cho lòng mình bạc thương nhưng hỡi ai biết cho ngoài lòng mình.

     Câu hỏi “ biết cho ai, hỏi ai người biết cho” chỉ góp vào một lời than thở hờn mát như để xoa dịu lòng người đôi chút. Vậy nên chàng trai sẽ vẫn luôn hy vọng mộng mơ về một tương lai không xa rằng:

“ Bao giờ bến mới gặp đò

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”

     “Bến”-“ đò”, “ hoa khuê”-“ các bướm” đều là những hình ảnh thường được mượn để nói đến quan hệ lứa đôi. Trong thơ xuân quỳnh, bà đã dùng hình ảnh của “ thuyền “ và “ biển” để nói lên nỗi nhớ thương của các cặp đôi, thì với Nguyễn Bính, đò cập bến, bướm tìm đến hoa thơm là những điều tự nhiên, chẳng bao giờ đổi thay. Chỉ tiếc là thời điểm cho những việc ý biết bao giờ cho đến. quả là một mơ tưởng, hẹn ước xa vời.

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

     Người ta thường nói ” Miếng đầu là trầu câu chuyện” khi có dịp thưa gửi, cưới xin. Vậy nên, Tác giả mượn “giàn trầu” và “hàng cau” để diễn tả nỗi nhớ da diết và quấn quýt như dây trầu quấn lấy thân cau. Nguyễn Bính thật khéo léo và tài hoa khi diễn tả nỗi nhớ bằng những hình ảnh thân quen và mộc mạc ấy. Ở 4 câu thơ này, người đọc nhận ra có sự thay đổi giữa cách xưng hô, tác giả đã mạnh dạn chuyển “tôi-nàng” thành “anh-em” rất táo bạo. Dấu hiệu này chứng tỏ mối tình này đã quá lớn, đã quá sâu và chàng trai muốn giãi bày trực tiếp với cô gái

     Tương tư” của Nguyễn Bính đã diễn tả gần gũi nhất những cung bậc cảm xúc của chàng trai đang rơi vào tình đơn phương. Những tâm sự, nhớ nhung, biết vô vàn những lời muốn nói đều được Nguyễn Bính sắp đặt rất tuần tự, tự nhiên và hợp lý. Chẳng ai có thể ngăn cản được tình yêu đến, dù là những cảm xúc hờn dỗi, than thở hay trách than cũng đều thật đáng nhớ trong cuộc đời.

Tổng hợp các bài văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm Tương tư hay khác:

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 11 khác:




Giải bài tập lớp 11 sách mới các môn học