4 bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh hay nhất - Ngữ văn lớp 9

Đề bài: Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Dàn ý Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

1. Mở bài

+Giới thiệu về tác phẩm "Vũ Trung tùy bút"

+Giới thiệu đoạn trích "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh".

2. Thân bài

- Thói ăn chơi hưởng lạc xa hoa, vô độ của chúa Trịnh Sâm

+Chúa cho xây dựng nhiều đình đài, cung điện ở nhiều nơi "phủ Tây Hồ, núi Dũng Thúy, núi Trầm" chỉ để thỏa thú vui chơi, đèn đuốc.

→ Sư xây dựng vì mục đích cá nhân này gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân.

+Thường xuyên tổ chức những cuộc vui chơi ở bờ Tây Hồ "mỗi tháng ba bốn lần" -> huy động nhiều người, binh lính, nhạc công dàn quanh, bày trò "mua bán như ở trong chợ"--> Lố lăng, giả dối, tốn kém.

+Thu vén hết những loài "trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch" trong dân gian để làm đẹp cho phủ chúa.

+Vì công việc thu vén ấy mà điều động nhiều người, "cả một cơ bình" → Tốn kém, kì công.

→ Phạm Đình Hổ đã ghi chép tỉ mỉ, chân thực về thú ăn chơi của chúa Trịnh Sâm mà không một lời bình

+Sự ăn chơi ấy báo hiệu cho sự sụp đổ của vương triều.

- Sự nhũng nhiễu của đám quan lại dưới quyền

+Sự ăn chơi, hưởng lạc, thú vui của vua chúa đưa đến một đám những kẻ nịnh bợ, nhũng nhiễu dân chúng.

+Mượn cớ "phụng thủ", bày trò cướp trắng trợn những "chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay" trong dân gian.

+Bày trò dọa nạy, "nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm"

+Sai tay chân cướp cây cảnh, hoặc phá tường nhà người ta mang đi, hoặc sai người "cắt phăng" để dàn cảnh đòi tiền.

→ Tìm các loại báu vật dâng chúa nhưng thực chất là vơ vét của dân làm của riêng.

+Tác giả kể câu chuyện của nhà mình (cây lê cao vài mươi trượng, nở hoa trắng xóa thơm lừng, hai cây lựu trắng đỏ) phải chặt đi vì sự bọn quan lại nhũng nhiễu.

→ Bộc lộ kín đáo sự phê bình, phê phán của tác giả với thói ăn chơi của vua chúa. Đồng thời cảm thông với những người dân trong xã hội.

3. Kết bài

+Nghệ thuật: Lối ghi chép chân thực, cụ thể, sống động.

+Miêu tả chân thực cuộc sống xa hoa của vua chúa và thói nhũng loạn của quan lại

+Bộc lộ kín đáo cảm xúc của mình.

+Đoạn trích mang giá trị nghệ thuật, hiện thực sâu sắc.

Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - mẫu 1

Tác phẩm Vũ trung tùy bút (tùy bút viết trong những ngày mưa) của danh sĩ Phạm Đình Hổ là tập bút kí sinh động về xã hội Việt Nam thời Lê – Trịnh, vào những năm cuối thế kỉ XVIII. Mặc dù được viết theo thể tùy bút khá tự do, nhưng những điều được ghi lại trong đó đã chứa đựng một giá trị hiện thực rất sắc sảo, đồng thời bộc lộ rõ cái nhìn phê phán của tác giả với thói xa hoa vô độ của vua chúa phong kiến.

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là một trong những câu chuyện được kể lại trung thực giúp ta hiểu về bộ mặt thật xấu xa của tập đoàn chúa Trịnh được che đậy trong lớp vỏ vàng son hào nhoáng. Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) là người nổi tiếng với biệt danh Chiêu Hổ, là người am hiểu văn hóa nếp sống của Thăng Long – Kẻ Chợ. Vốn dòng dõi quan lại đời Lê nên ông có điều kiện hiểu rõ những kẻ thuộc giới quý tộc kinh kì.

Những điều nhà văn ghi lại tưởng như là sự ghi nhận về thời vô sự – bốn phương yên hưởng thái bình. Mỉa mai thay, thực trạng lại là một bức tranh với sắc chói chang của mũ mão cân đai rỡ ràng đối lập với thực tại tinh thần tối sầm những cảm giác bất an trong đời sống dân lành. Thực trạng ấy từng được mô tả trong Thượng kinh kí sự của Hải Thượng Lãn Ông, Tang thương ngẫu lục của danh sĩ Nguyễn Án. Nhưng câu chuyện của Chiêu Hổ vẫn có sức hấp dẫn riêng.

Thời gian, khung cảnh câu chuyện được thuật lại tỉ mỉ. Trong bối cảnh trong nước vô sự, việc an hưởng thái bình, du ngoạn cảnh đẹp của một ông chúa có lẽ chẳng có gì đáng nói. Việc ăn chơi của Chúa đáng nói ở chỗ “đình đài được làm liên tục”. Hãy so sánh với những gì trong phủ Chúa được Hải Thượng Lãn Ông mô tả: “nơi nào cũng lâu đài, đình các, rèm châu cửa ngọc, áng nước mây loà, suốt cõi toàn hoa, hoa cỏ kì lạ, gió thoảng hương trời, thú đẹp chim quý, nhảy nhót bay hót, giữa đất bằng nhô lên một ngọn núi cao, cây to bóng mát, nhịp cầu sơn vẽ bắc qua lạch nước quanh co, lại có lan can làm toàn bằng đá màu…”.

Ngoài cung cũng là cả một sự xa xỉ cầu kì như vậy. Chúa thưởng ngoạn cảnh đẹp kéo theo cả một đội quân tiền hô hậu ủng với binh lính, nội thần, các quan hỗ tụng đại thần… Quang cảnh phô bày qua sự mô tả của tác giả khiến người đọc hình dung một sự sắp đặt nhằm làm đẹp lòng Chúa của đám nịnh thần mặt trắng, đồng thời hiện rõ tính chất phồn vinh giả tạo của cuộc sống kinh kì.

Thức ngon sẵn bày, đàn hay sáo ngọt. Chỉ cần vài cảnh đã cho thấy sự xa hoa tráng lệ xứng đáng với tiếng tăm Thịnh Vương – quyền hành dưới mà trên cả hoàng đế. Đàng sau những vẻ phô trương hào nhoáng đó là sự lố bịch hiện hình : bọn nội thần mặc quần áo đàn bà đứng bán hàng, cảnh đi chợ của các quan như trò chơi trẻ con cho thấy sự phồn vinh giả tạo. Nhằm thoả mãn nhu cầu ích kỉ của mình, “bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì”.

Quyền lực, xa xỉ, ngang ngược, hống hách là những gì chúng ta có thể hình dung về ông Chúa nổi tiếng ăn chơi này. Tác giả đã bình bằng một điềm báo : “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”. Câu văn miêu tả vẽ ra viễn cảnh u ám, đầy âm khí, như kết đọng nỗi oán hờn của dân gian, chứa đựng ý nghĩa cảnh báo sự sụp đổ không thể tránh khỏi của một vương triều quái thai mục ruỗng.

“Thượng bất chính, hạ tắc loạn” (Trên không nghiêm, dưới sinh loạn) ! Quả thật, những gì Phạm Đình Hổ diễn tả tiếp nối về hành động của bọn tay chân nhà Chúa đục nước béo cò, “nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm”. Nhà dột từ nóc, bởi thế người đọc không nghi ngờ gì về bản chất thối nát của vương triều Lê – Trịnh. Tất yếu, những hành vi của chúng gây tác hại cho dân lành lương thiện như thế nào : bị vu oan, hãm hại cửa nát nhà tan.

Không phải là cách nói ví von mà Phạm Đình Hổ còn kể lại câu chuyện sinh động : “Hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà hủy tường để khiêng ra”. Người giàu có của bỗng thành miếng mồi ngon cho bầy diều quạ hung dữ mượn danh Chúa đục khoét, hành hạ.

Không những thế, người kể chuyện còn đưa ra bằng chứng ngay trong gia đình mình như xác minh tính chân thực của câu chuyện kể : “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa trắng xóa thơm lừng; trước nhà trung đường, cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cùng nhân ta đều sai chặt đi cũng vì cớ ấy”.

Bản thân gia đình tác giả thuộc hàng quý tộc chốn cung đình, vậy mà còn trở thành nạn nhân của Chúa Trịnh. Ta chứng kiến cái đẹp bị hủy hoại bởi lẽ không cái đẹp nào có thể được phát triển tự nhiên dưới ách bạo quyền. Câu chuyện kết thúc ở đó, nhưng giá trị tố cáo đã thật đầy đủ, không cần nói thêm, viết thêm.

Một chuyện cũ viết lại qua lời kể chuyện, miêu tả sinh động của Phạm Đình Hổ đã giúp ta hình dung tất cả sự thối nát tàn bạo của triều đình vua Lê – chúa Trịnh và hiểu rõ nguyên nhân sụp đổ của nó. Khi những kẻ cầm quyền chỉ biết vun vén bản thân, bỏ mặc nhân dân, chắc chắn sẽ mất lòng dân, lời ta thán của dân chúng sẽ biến thành sức mạnh khởi nghĩa lật nhào chế độ. Có lẽ, đó còn là lời nhắc nhở, cảnh tỉnh của Chiêu Hổ cho triều đại nhà Nguyễn đương thời. Ông đã vạch đúng bản chất chung của giai cấp phong kiến, qua những trang tùy bút đặc sắc .

Vũ trung tùy bút là tập kí họa về thời đại qua tài hoa của cây bút Phạm Đình Hổ. Dù thời ấy đã qua, nhưng những câu chuyện trong đó vẫn còn giá trị tư liệu, giá trị lịch sử và văn chương. Người đọc có thể nhận thấy sức mạnh hủy diệt của thế lực đồng tiền khi song hành với quyền lực và phù hoa làm hủy hoại nhân tính con người đến mức nào !

Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - mẫu 2

Phạm Đình Hổ (1768 – 1839, sinh trưởng trong một gia đình dòng dõi khoa bảng ở tinh Hải Dương. Thời đại ông sống là thời thời kì xã hội phong kiến đang trên đà mục ruỗng, thối nát. Vì vậy, qua các tác phẩm của mình, ông thường kí thác tâm sự của nho sĩ sinh bất phùng thời. Trong số các tác phẩm đặc sắc, không thể không nhắc đến “Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” trích “Vũ trung tùy bút”. Tùy bút này ghi lại cảnh sống xa hoa, vô độ của Chúa Trịnh và bọn quan lại, đồng thời tác phẩm cũng phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân.

Lúc mới đăng cơ, Trịnh Sâm tỏ ra là bậc minh chúa với trí thông minh thiên phú, quyết đoán, bản lĩnh hơn người, nhưng khi đã yên vị, y lại đắm chìm trong tửu sắc, ăn chơi sa đọa. Mỗi tháng đều đặn ba đến bốn lần, nhà Chúa xa giá tới cung Thụy Liên bên Hồ Tây. Binh lính, quan lại có mặt đông đủ, khung cảnh buôn bán diễn ra vô cùng tấp nập, nhộn nhịp.

Niềm vui với nhà chúa như vậy có lẽ chưa thỏa, nên chúa liên tục cho xây dựng đền đài, lăng tẩm ở các nơi để được mặc sức vui chơi, hưởng lạc. Chính việc xây dựng những hành cung xa hoa, lộng lẫy tốn kém làm nhân dân lâm vào tình cảnh khốn khổ vô cùng. Lòng dân đã oán hận ngút trời, còn Chúa Trịnh vẫn chìm đắm trong tửu sắc, đàn hát, u mê.

Là bá chủ thiên hạ nên Chúa Trịnh cũng muốn mọi tuyệt phẩm trong nhân gian đều là của Chúa. Nhân cơ hội này, bọn cận thần cũng tranh thủ vừa lấy lòng Chúa, vừa vơ vét vào túi riêng. Nào là trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chúng đều mặc sức thu lấy, không thiếu một thứ gì.

Có khi để di dời cả cây đa to, cành lá um tùm, rễ dài đến vài trượng từ bên bắc chở qua song đem về, cả một cơ binh được huy động. Cả những khu vườn lộng lẫy, chất đầy đồ vật, cây cối, chim muông quý hiếm trong thiên hạ, nhưng âm thanh phát ra từ đó lại gây cảm giác ghê rợn, gai người. Đó như điềm gở, báo hiệu nguy cơ diệt vong của triều đại chỉ lo ăn chơi hưởng lạc, mà không quan tâm đến đời sống nhân dân.

Người xưa nói: “Ông chủ nào thì đầy tớ nấy”, bọn hoạn quan dưới quyền cũng ỷ thế cậy quyền mà tác oai, tác quái, nhũng nhiễu nhân dân. Chúng thăm dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay thì lập tức biến hai chữ “phụng thủ”. Đêm khuya thanh vắng, chúng cho tay chân vào nhà người ta ăn cắp đồ rồi lại vu vạ cho họ tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền. Nạn nhân thì quá sợ hãi, phải bỏ của ra kêu van chí chết. Thủ đoạn nham hiểm, độc ác đó của bọn quan lại đã đẩy người dân vào tình cảnh thảm thương.

Đoạn cuối, tác giả không chỉ kể chuyện nhà người, mà còn kể chuyện nhà mình, sống trong xã hội suy tàn lúc bấy giờ, nỗi bất hạnh không còn là của riêng nhà nào: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng lúc nở hoa, trắng xóa thơm lừng, trước nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quá trông rất đẹp”. Dù tiếc đứt ruột cũng phải chặt đi để tránh tai bay vạ gió ập đến nhà.

Cách kể chuyện như vậy đã kéo người kể chuyện thành một trong những nhân vật chứng kiến, tham gia câu chuyện. Do đó, câu chuyện được kể tăng thêm tính thuyết phục, lôi cuốn người đọc. Cảm xúc cũng vì thế mà trở nên chân thực, sâu sắc hơn.

Với cảm quan hiện thực và tấm lòng nhân đạo, Phạm Đình Hổ đã ghi lại chân thực cảnh sống xa hoa, ăn chơi sa đọa, thương thiên nghịch lí của Trịnh Sâm và bọn quan lại dưới quyền, dồn đẩy nhân dân vào chân tường cuộc sống. Chúng đâu biết rằng, “Đẩy thuyền đi là dân, mà lật thuyền cũng là dân”, được lòng dân thì được cả thiên hạ, mà mất lòng dân thì mất cả vương triều.

Chi tiết miêu tả tỉ mỉ, chân thực, sinh động, lời bình ngắn gọn, cảm xúc được ẩn sâu kín trong câu chữ, tác phẩm ghi chép những chuyện người thật việc thật này có lẽ không chỉ dừng lại ở ý nghĩa lịch sử, mà còn có giá trị văn học cao. Bởi thế chăng, mà sau này, ở thế kỉ XX, ta bắt gặp những tài năng về phóng sự, tùy bút có lẽ đã được mạch ngầm này nuôi dưỡng, đó là những Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng…

Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - mẫu 3

Hiện thực suy tàn của các tập đoàn phong kiến trong xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII là mảnh đất, màu mỡ cho văn chương mang cảm hứng phê phán phát triển. Một trong số những tác phẩm ấy là Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ. Qua đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh người đọc có thể thấy được giá trị hiện thực của văn bản qua việc miêu tả thói ăn chơi vô độ của chúa quan phủ chúa và sự lộng hành của lũ hoạn quan.

Thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận trong phủ được được miêu tả thông qua những cảnh và những việc cụ thể. Đó là việc xây dựng quá nhiều đình đài và thú ngao du xa xỉ. Cậch bài trí phong cảnh và những cuộc dạo chơi của chúa Trịnh được miêu tả tỉ mỉ thể hiện sự xa hoa trong lối sống hưởng thụ của hắn. Hơn thế, còn có việc thu sản vật, những thứ quý giá trong dân gian để trang trí phủ chúa. Những việc này gây phiền nhiễu, tốn kém cho đời sống vốn rất khó khăn của nhân dân.

Đi xa hơn việc miêu tả thông thường, tác giả kín đáo bộc lộ thái độ chủ quan của mình trước việc ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ đổ tan tành, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường.”

Cảm nhận của tác giả về cái “triệu bất tường” mang ý nghĩa như sự phê phán, cảnh báo về thói ăn chơi, hưởng lạc sa hoa trên mồ hôi, xương máu của nhân dân sẽ dẫn đến cảnh suy tàn, tan vỡ tang thương. "Thượng bất chính, hạ tắc loạn", chúa và quan như vậy dẫn đến sự lộng hành của bọn quan lại hầu cận. Chúng “nhờ gió bẻ măng”, nhũng nhiễu, vơ vét của dân bằng những thủ đoạn trơ tráo, trắng trợn, vừa ăn cướp vừa la làng: “Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khiếu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào.

Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dậm doạ lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối gì to lớn thì thậm chí phải phá nhà huỷ tường để khiêng ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ.”.

Kết thúc bài tuỳ bút, tác giả ghi lại việc có thực đó từng xảy ra trong nhà mình: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng; trước nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông Tắt đẹp, bà cung nhân ta đều sai chặt đi”. Câu chuyện tbực xảy ra ở chính gia đình tác giả có tác dụng làm tăng thêm tính xác thực, sinh động cho những chứng cứ lên án chúa Trịnh và quan lại.

Vạch tội chính quyền phủ chúa, tác giả dùng một giọng văn rất khách quan, hầu như chỉ kể và tả, không có yếu tố biểu cảm. Tuy vậy, những điều được kể, tả đều là những chi tiết được chọn lọc kĩ lưỡng, có tác dụng phơi bày sự mục ruỗng của tập đoàn phong kiến này. Bởi vậy, toàn bộ đoạn trích toát lên cảm hứng phê phán, lên án sâu sắc.

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh với những giá trị hiện thực chân thực, sống động vừa là một văn bản có giá trị văn chương vừa là những ghi chép có giá trị lịch sử quan trọng.

Phân tích tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - mẫu 4

Phạm Đình Hổ (1768 - 1839), tên thường gọi là Chiêu Hổ, sinh trưởng trong một gia đình dòng dõi khoa bảng ở làng Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Cha đậu cử nhân và ra làm quan dưới triều Lê. Từ thuở nhỏ, Chiêu Hổ đã ôm mộng văn chương. Sau này, ông vào học trường Quốc Tử Giám và thi đậu sinh đồ, nhưng vì thời thế không yên nên đành lánh về quê dạy học.

Năm 1821, vua Minh Mạng nhà Nguyễn tuần du ra Bắc. Phạm Đình Hổ dâng một số trước tác lên nhà vua và được bổ nhiệm một chức quan ở Viện hàn lâm. Được một thời gian, ông xin nghỉ việc. Đến năm 1826, Minh Mạng lại triệu Phạm Đình Hổ vào kinh đô Huế nhậm chức Tế tửu Quốc Tử Giám, rồi Thị giảng học sĩ.

Phạm Đình Hổ bắt đầu sáng tác từ thời Tây Sơn, nhưng chủ yếu là vào những năm đầu của triều Nguyễn. Ông để lại nhiều tác phẩm, trong đó giá trị nhất là hai thiên kí sự Vũ trung tuỳ bút và Tang thương ngẫu lục. Vũ trung tuỳ bút gồm 88 mẩu chuyện nhỏ, viết theo thể tuỳ bút, cung cấp cho người đọc những kiến thức về văn hoá truyền thống, về phong tục tập quán và đặc điểm địa lí cùng những danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước.

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh ghi chép lại những cảnh sinh hoạt diễn ra hằng ngày ở phủ chúa thời Trịnh Sâm. Qua đó, tác giả ngầm lên án thói ăn chơi xa xỉ, vô đạo đức của Trịnh Sâm và bọn quan lại hầu cận dưới quyền. Lúc mới lên ngôi chúa, Trịnh Sâm là con người cứng rắn, thông minh, quyết đoán, sáng suốt, trí tuệ hơn người. Nhưng sau khi đã dẹp yên được các phe phái chống đối, lập lại kỉ cương cho triều đình thì dần dần sinh bụng kiêu căng, xa xỉ, phi tần thị nữ kén vào rất nhiều, mặc ý vui chơi thỏa thích.

Chúa Trịnh say mê Đặng Thị Huệ, đắm chìm trong cuộc sống xa hoa, ăn chơi hưởng lạc, phế con trưởng, lập con thứ, gây nên rất nhiều điều bạo ngược, dẫn đến cảnh nồi da xáo thịt. Các vương tử tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau. Trịnh Sâm mất năm 1782, ở ngôi chùa được 16 năm.

Thỏi ăn chơi ngông nghênh, xa xỉ của Trịnh Sâm và lũ quan lại hầu cận được tác giả miêu tả qua những chi tiết tiêu biểu như Trịnh Sâm cho xây dựng nhiều cung điện, đền đài ở các nơi để thoả mãn ý thích đi chơi, ngắm cảnh đẹp của mình. Việc xây dựng đình đài cứ làm liên tục trong nhiều năm, hao tốn không biết bao nhiêu là tiền của. Không mấy quan tâm đến lợi ích to lớn của quốc gia, dân tộc; ngược lại, chúa Trịnh dành rất nhiều thời gian để hưởng lạc:

Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ, binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán. Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tuỳ ý ghé vào bờ mua bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc.

Trong đoạn văn dưới đây, tác giả đã phơi bày bản chất tham lam của chúa Trịnh và bè lũ tay sai. Cậy quyền cậy thế, chúng trắng trợn ép buộc dân lành phải cung nộp cho phủ chúa những thứ quý giá mà chúa thích: Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, Chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi...

Tác giả vạch rõ lòng tham vô đáy của chúa Trịnh bằng nghệ thuật kể chuyện và miêu tả. Các dẫn chứng đưa ra đều khách quan, không xen lời bình. Một vài sự kiện được miêu tả tỉ mỉ, gây ấn tượng sâu đậm đối với người đọc. Thái độ bất bình của tác giả thể hiện khá kín đáo trong những câu văn đầy ẩn ý: Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bể, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường.

Cảnh được miêu tả là cảnh thực của những khu vườn lộng lẫy, đầy trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, được bày vẽ, tô điểm cho giống thiên nhiên nơi bến bể đầu non, nhưng âm thanh lại gợi cảm giác ghê rợn trước một cái gì đó tan tác, đau thương, chứ không phải trước cảnh đẹp yên bình, thơ mộng. Đó là triệu bất tường, tức là điềm gở, báo trước sự suy vong tất yếu của một triều đại chỉ lo ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của dân lành. Quả thực điều đó đã xảy ra sau khi Trịnh Sâm mất không lâu.

Thời Trịnh Sâm, bọn hoạn quan hầu cận trong phủ chúa được sủng ái bởi chúng rất đắc lực trong việc giúp chúa bày ra các trò ăn chơi hưởng lạc. Vì vậy nên chúng thường ỷ thế chúa mà hoành hành, tác oai tác quái, mượn gió bẻ măng, nhũng nhiễu, vơ vét của dân lành bằng nhiều thủ đoạn hèn hạ, độc ác.

Thủ đoạn mà chúng thường sử dụng là hành động vừa ăn cướp, vừa la làng. Người dân bị hại tới hai lần, bằng không thì cũng phải tự tay huỷ bỏ tài sản của mình để tránh tai vạ. Đó là điều hết sức vô lí, bất công. Bọn hoạn quan vừa vơ vét để ních đầy túi tham, vừa được tiếng mẫn cán trong việc cung phụng chúa:

Bọn hoạn quân cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào. Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá, thậm chí phải phá nhà huỷ tường để khiêng ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ.

Kết thúc đoạn văn miêu tả thủ đoạn nham hiểm, độc ác của bọn hoạn quan này, tác giả kể lại một sự việc đã từng xảy ra ngay tại gia đình mình: Dù tiếc đứt ruột nhưng chủ nhà phải sai đầy tớ chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý trong vườn để tránh tai hoạ:

Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng; trước nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy.

Kiểu dẫn dắt câu chuyện như thế đã làm gia tăng đáng kể sức thuyết phục cho những chi tiết chân thực mà tác giả đã ghi chép ở trên, đồng thời cũng làm cho cách viết thêm phong phú và sinh động. Cảm xúc của tác giả cũng được gửi gắm kín đáo ở trong đó.

Qua đoạn văn này, tác giả tố cáo bọn quan lại trong phủ chúa Trịnh vừa tham vừa ác, làm trái với đạo trời và lòng người. Tất yếu, nhân dân sẽ vùng lên lật đổ chúng. Câu chuyện được tác giả ghi chép rất tự nhiên. Những chi tiết, hiện tượng chân thực được miêu tả tỉ mỉ mà không nhàm chán, xen kẽ những lời bình ngắn gọn, sắc sảo càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của tác phẩm.

Bằng thể loại tuỳ bút ghi chép lại những sự kiện mắt thấy tai nghe, tác giả Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh đã phản ánh cuộc sống xa hoa vô độ của vua chúa, quan lại phong kiến thời vua Lê chúa Trịnh suy tàn. Đồng thời qua tác phẩm này, người đọc phần nào nắm được đặc trưng của thể văn tuỳ bút đời xưa và giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của những dòng ghi chép đầy tính hiện thực của Phạm Đình Hổ.

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Giới thiệu kênh Youtube hoconline

chuyen-cu-trong-phu-chua-trinh.jsp